Chi tiết tin tức
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

"Về phía ước mơ"

- Những ngày cuối năm, tôi theo đoàn cán bộ thành phố ra thăm, tặng quà bộ đội đóng quân trên đảo Thổ Châu tỉnh An Giang. Giữa trời biển mênh mông, tình cờ tôi gặp Chí - thằng bạn khác xã nhưng học cùng cấp ba ở trường huyện.

Mang hàng hóa ra đảo. Tranh: HỒ THANH THOAN
 

Tính ra mười năm có lẻ, Chí vẫn giống như xưa. Vẫn nước da ngăm săn chắc, rắn rỏi. Vẫn gương mặt xương xương, ánh mắt phảng phất nét suy tư thường trực. Vẫn giọng nói vang vang, cười giòn như chẻ tre. Khác chăng, Chí điềm đạm, chững chạc hơn trong bộ quân phục và quân hàm đại úy này. Tôi nhớ hồi học chung Chí giỏi văn nhất trường. Có lần Chí viết bài kiểm tra “Về phía ước mơ” rất xúc động, cô Thủy đọc cho cả lớp nghe. Tan học, tôi hỏi Chí: “Chuyện này có thiệt không mậy?”. Chí tròn mắt nhìn tôi rồi cụp mi xuống, gật gật đầu: “Những gì tao viết là cuộc đời tao, người thân trong gia đình tao, Đầm Chích quê tao, mỗi thứ một chút. Mày đọc tưởng tao nói dóc hả Hùng?”. “Ngược lại, rất thật. Nhưng tao nghĩ…”. “Không thể ngờ chứ gì? Nhiều lúc tao còn chưa tin - Chí cười ngượng nghịu - Nhà tao có tới năm anh chị em vừa trai vừa gái, tao là con út. Mày tin không?”. Sao lại không. Tía tôi nói, con càng đông càng vui, sau này già không nhờ đứa này thì nhờ đứa khác.

Chí kể, nhà anh nghèo đến độ không có cục đất chọi chim, cả gia đình phải đi làm mướn quanh năm suốt tháng. Là con út, Chí may mắn ít phải chịu cơ cực hơn các anh chị. Anh nhớ nhất những mùa nước nổi theo má bơi xuồng hái bông điên điển từ sáng sớm đến khi đứng bóng. Ký ức trong Chí là tiếng rao khắc khoải của má, là những câu vọng cổ buồn não ruột má hát trên khúc sông vắng để “ba thương”. Giữa cái nghèo khó, nụ cười của má vẫn hiện lên nhẹ hều như đóa điên điển rung rinh trong gió chiều – một hình ảnh mà cho đến tận bây giờ anh vẫn không thể nào quên.

Chí dừng lời. Hình như Chí cố nén xúc động đang dâng lên trong lòng thì phải. Tôi mơ màng nghĩ về tuổi thơ cơ cực của mình có khác gì Chí đâu. Tôi và Chí được sinh ra sau hai mươi năm đất nước thống nhất, tuổi thơ gắn với vùng biên giới Giang Thành còn lắm khó khăn. Vậy nên áo không đủ mặc nói gì đến ấm, cơm không đủ ăn nói gì đến no. “Thường thì bán hết mớ điên điển là trời chạng vạng, má tao tranh thủ ghé chợ đong vài lon gạo, bơi xuồng về nấu cơm. Cả nhà tao quây quần bên bữa cơm chiều đạm bạc. Nhưng đó là những bữa trời yên gió lặng, gặp trời bão không ai dám bơi xuồng vô đồng. Cả nhà xúm xít trong căn nhà chật hẹp. Lon gạo cuối cùng cũng nấu hết, lại ăn độn rau muống, bông súng trừ cơm chờ trời bớt bão giông”. Dứt lời, Chí hít thở một hơi dài.

Tôi nhắc lại chuyện xưa khi ngồi với Chí trên đảo Thổ Châu. Chí cười giòn, vươn lồng ngực đón gió biển chiều Tây Nam, giọng hào sảng: “Mày biết không Hùng, chị Hai thường chọc rằng, đẻ thằng Út rồi là má hết sữa, bởi vậy nó ốm nhom! Đúng là hồi đó tao ốm thiệt. Má nói, lúc nhỏ chỉ cho bú chừng một tuần lễ, rồi pha nước cơm với đường đút tao. Có lẽ vậy nên tao hay sốt, đau bụng, thậm chí bị ghẻ nữa. Mỗi lần bệnh, má tất tả chạy ngược chạy xuôi kiếm thuốc. Mày biết đó, quê mình nghèo, không có nhiều bác sĩ như những chỗ khác nên hễ bị bệnh chỉ nghĩ phải kiếm lá gì để xông, cây gì sắc thuốc uống cho mau khỏe. Cực là má tao, nhiều khi đi kiếm lá xông, sắc thuốc mà bỏ cơm, mất ngủ. Tao đã lớn lên bằng những giọt mồ hôi mặn chát nhưng ngọt ngào của má”.

Giọng Chí chùng xuống rồi nhẹ nhàng như sóng biển. Anh kể, dù chị Năm hay nhõng nhẽo tị nạnh, nhưng sự thật má thương đều các con, chỉ là Chí luôn được ưu ái phần hơn kèm lời dặn vui: “Ăn hai phần thì mần hai món”. Ánh mắt Chí rạng rỡ khi nhớ về những bữa bánh quà của má và không khí gia đình đông đúc thuở xưa. Giờ đây, khi các anh chị đã ra riêng, ba má cũng già yếu, thỉnh thoảng cả nhà mới tụ họp đầy đủ. Dù má hay than đẻ nhiều làm các con cực khổ, tứ tán nhưng với Chí, được làm “cục cưng” trong gia đình ấy là niềm hạnh phúc lớn lao.

Tôi nghe sống mũi cay cay khi nhận ra sự xô bồ của cuộc sống lập nghiệp đã vô tình xóa nhòa ký ức tuổi thơ. Qua giọng kể da diết của Chí, làng quê Đầm Chích hiện lên nghèo khó, trắng xóa trong những mùa lũ dữ. Từ năm mười tuổi, Chí đã sớm nếm trải nhọc nhằn, đi làm cỏ, cắt lúa mướn để phụ giúp gia đình và có tiền đi học. Dù các anh chị đều dở dang con chữ, nhưng Chí vẫn quyết không bỏ cuộc, luôn ấp ủ ước mơ học hành để trở thành người có ích như những chiến sĩ ở Đồn Biên phòng quê mình. Có lần tôi hỏi: “Mày giỏi văn sao không chọn ngành phù hợp?”. Chí nhìn xa xăm nói: “Hồi trước, ông nội tao từng chiến đấu bảo vệ biên giới này, giờ tao muốn giống ông. Với lại, học trường Quân đội không tốn tiền, không lo chi phí xin việc; nếu vô trường khác thì nhà tao đâu kham nổi”. Và Chí đã nỗ lực đủ tiêu chuẩn vô Học viện Biên phòng đúng nguyện vọng.

Tôi hỏi: “Hai bác vẫn khỏe hả Chí?”. Chí thở dài, ngập ngừng: “Má tao… mất lâu rồi! Hồi tao… học năm thứ hai”. Tôi ái ngại nhìn Chí. Nó hít một hơi thật sâu, kể: “Năm đó má bệnh nặng. Mấy anh chị nói cho tao hay để về thăm má nhưng má cản. Má nói để tao học hành, về cũng đâu làm gì, mai mốt má khỏe thôi. Nhưng tao cũng xin về tranh thủ. Tao nhìn không ra má. Mới bệnh hơn một tháng mà má tiều tụy quá. Má nằm trên võng, nhìn tao mặc quân phục, cười tự hào mà nước mắt rưng rưng làm tao khóc theo. Hết phép, tao trở lại đơn vị lúc bệnh của má chưa khỏi. Mỗi lần nghĩ đến má nằm co ro trên võng là tao rơi nước mắt. Tiếc rằng, đó là lần cuối cùng tao gặp má. Má đã về trời trong một ngày lũ tràn đồng Đầm Chích và mưa trắng xóa sông Giang Thành”.

Tôi im lặng ngắm mặt trời vàng vọt chỉ còn một nửa trên mặt biển xanh. Chí cắn chặt môi, quơ tay cầm mấy cục đá nhỏ quăng xuống biển. Hành động ấy cho tôi hiểu rằng Chí đang kìm nén xúc động trào dâng. Hồi lâu, Chí buông một hơi phấn chấn: “Sau khi tốt nghiệp ra trường, tao được điều về đây công tác. Tính ra cũng gần bảy năm rồi tao chưa về quê. Nhưng tao biết, mấy năm gần đây, cánh đồng Đầm Chích không còn bị ngập vì lũ. Mùa lúa xong thì mùa rẫy tới, nhờ vậy cũng không còn thiếu trước hụt sau. Hàng điên điển sau hè ba tao chặt hết vì không sợ sóng lũ tạt vào nhà nữa. Nhưng quanh ngôi mộ má, ba tao trồng rất nhiều điên điển. Có lẽ, ba không muốn sóng vỗ làm má thức giấc! Trước khi ra đảo, tao đi viếng má. Nhìn những bông hoa vàng rưng rức trong gió mà tao nghe như tiếng rao của má cứ lanh lảnh trên khúc sông ngày nào”. “Ủa, bảy năm mày chưa về quê hả?”, tôi tròn mắt ngạc nhiên. Chí cười, xua tay: “Ý tao nói là bảy cái Tết đó, vì phải trực. Nếu có về thì trước hoặc sau Tết. Nhưng năm nay thì khác nghe, tao xin về… cưới vợ ăn Tết!”. “Hả? Tưởng mày… có con như tao rồi chứ!”. “Tao mới ba mươi tuổi, còn trẻ mà. Tụi tao quen nhau trong lần cô ấy cùng nhà trường ra đây chúc Tết bộ đội. Nàng tốt nghiệp đại học sư phạm năm ngoái - Chí vỗ vai tôi - Nè, đám cưới tao mày về chơi nghen!”. Tôi hỏi: “Sao mày không xin về Đầm Chích cho gần nhà?”. “Biên phòng như tao gắn liền biên giới, ở đâu cũng là nhà mà. Nếu ai cũng xin về thì đảo này ai trông coi chứ”, giọng Chí dứt khoát.

   Tôi nhìn Chí, thầm tự hào về người bạn học xưa. Nhiều năm qua đi, dù cuộc sống không ít đổi thay nhưng Chí luôn trung thành với dự định, chung thủy trên đường “Về phía ước mơ” của mình. Có lẽ ở nơi nào đó, má Chí sẽ tự hào khi thấy con trai út “ăn hai phần thì mần hai món”. Trước khi rời đảo, Chí tặng tôi hai câu thơ như để nhớ mà về dự ngày vui của bạn: “Nhìn bàng vuông Thổ Châu nhớ mai vàng Đầm Chích/ Đêm giao thừa ai căng mắt giữa khơi xa!”./.

Truyện ngắn của: HỒ KIÊN GIANG

Tác giả: Truyện ngắn của: HỒ KIÊN GIANG

Liên kết

Thống kê truy cập

Đang online: 4
Lượt truy cập hôm nay: 1
Trong tháng: 1.037
Tổng số lượt truy cập: 45.366