Quyền lực thuộc về Nhân dân
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân và được Nhân dân ủy quyền thông qua các cơ quan đại diện do mình bầu ra. V.I. Lênin khẳng định: Bản chất của dân chủ XHCN là mở rộng dân chủ đến đa số Nhân dân lao động, bảo đảm họ thực sự tham gia quản lý Nhà nước và xã hội. Kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Nước ta là nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân”. Người chỉ rõ, Nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua bầu cử ra Quốc hội và HĐND các cấp, những cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng của mình.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam chứng minh, ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, cuộc Tổng tuyển cử ngày 06/01/1946 Quốc hội Việt Nam khóa I hình thành đầy đủ tính pháp lý. Đó là Quốc hội của một nước Việt Nam độc lập. Sự kiện lịch sử đó không chỉ đặt nền móng cho thiết chế Nhà nước mới mà còn khẳng định bản chất dân chủ của chế độ cách mạng non trẻ. Trải qua 15 nhiệm kỳ, Quốc hội Việt Nam ngày càng khẳng định vai trò là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất. Thông qua bầu cử, chính quyền được xác lập hợp hiến, hợp pháp; ý chí của Nhân dân được thể chế hóa thành Hiến pháp và pháp luật; đường lối của Đảng được cụ thể hóa thành chính sách phát triển đất nước.
Một trong những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch thường gặp là phủ nhận vai trò thực chất của Quốc hội. Thực tế 80 năm qua đã bác bỏ hoàn toàn những lời lẽ đó. Quốc hội Việt Nam đã thông qua các bản Hiến pháp quan trọng như Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013. Mỗi bản Hiến pháp đều phản ánh yêu cầu phát triển của đất nước trong từng giai đoạn lịch sử, khẳng định nguyên tắc tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân, bảo đảm quyền con người, quyền công dân ngày càng đầy đủ, thực chất hơn. Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 đã hiến định rõ mô hình Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; xác lập cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực Nhà nước giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp. Đây là bước phát triển quan trọng về tư duy lập hiến, thể hiện trình độ dân chủ và pháp quyền ngày càng cao.
Hoạt động lập pháp qua các nhiệm kỳ Quốc hội không ngừng được đổi mới, chuyên nghiệp hóa. Hàng trăm bộ luật, luật và nghị quyết được ban hành, sửa đổi, bổ sung, tạo hành lang pháp lý đồng bộ cho phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, hội nhập quốc tế, bảo đảm QP, AN, giữ vững kỷ cương, trật tự xã hội. Từ Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Đất đai, Luật Doanh nghiệp, đến các luật về phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí… đều thể hiện rõ vai trò của Quốc hội trong việc thiết lập, củng cố kỷ cương pháp luật. Không chỉ lập pháp, Quốc hội còn tăng cường giám sát tối cao đối với hoạt động của Chính phủ, Tòa án, Viện kiểm sát và các cơ quan khác. Các phiên chất vấn và trả lời chất vấn ngày càng công khai, minh bạch; nhiều vấn đề bức xúc của xã hội được đưa ra nghị trường, được thảo luận thẳng thắn và có giải pháp cụ thể.

Song song với Quốc hội, HĐND các cấp là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, do Nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra. Đây là thiết chế quan trọng để bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân ở cơ sở. Thông qua HĐND, những kiến nghị, phản ánh, nguyện vọng của cử tri được chuyển tải tới chính quyền các cấp; các quyết sách phát triển KT-XH, ngân sách, quy hoạch, đầu tư công… đều được thảo luận, quyết định theo thẩm quyền. Hoạt động tiếp xúc cử tri, giám sát chuyên đề, chất vấn tại kỳ họp HĐND ngày càng đi vào thực chất, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước ở địa phương.
Những kết quả tích cực trong xây dựng nông thôn mới, phát triển đô thị, bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, cải cách hành chính… ở nhiều địa phương là minh chứng rõ nét cho vai trò của HĐND - thiết chế dân chủ được hình thành thông qua bầu cử.
Phản bác các luận điệu xuyên tạc
Các thế lực thù địch cố tình áp đặt mô hình dân chủ tư sản phương Tây làm “chuẩn mực duy nhất”, từ đó phủ nhận đặc thù lịch sử, chính trị và văn hóa của Việt Nam. Song, dân chủ không có khuôn mẫu duy nhất. Chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ ra rằng dân chủ luôn mang bản chất giai cấp; dân chủ XHCN là dân chủ của đại đa số Nhân dân lao động, khác về chất với dân chủ tư sản.
.png)
Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội, đó là sự lựa chọn của lịch sử, được khẳng định trong thực tiễn cách mạng và được Nhân dân thừa nhận. Sự lãnh đạo của Đảng bảo đảm cho bầu cử diễn ra đúng định hướng chính trị, giữ vững ổn định, không rơi vào tình trạng tranh giành quyền lực hỗn loạn, chia rẽ xã hội như ở một số quốc gia.
Việc hiệp thương, giới thiệu người ứng cử được thực hiện công khai, dân chủ, theo đúng quy định của pháp luật; cử tri trực tiếp bỏ phiếu kín, lựa chọn người xứng đáng. Tỷ lệ cử tri tham gia bầu cử luôn đạt mức rất cao, thể hiện ý thức chính trị và niềm tin của Nhân dân đối với chế độ. Quan điểm cho rằng bầu cử ở Việt Nam “thiếu tự do” là luận điệu xuyên tạc của các thế lực phản động, bởi tự do chân chính phải gắn với lợi ích của cộng đồng, với ổn định chính trị và phát triển bền vững. Thực tiễn phát triển đất nước với tăng trưởng kinh tế ổn định, đời sống Nhân dân ngày càng nâng cao, vị thế quốc tế không ngừng được củng cố chính là câu trả lời thuyết phục nhất.
Đảng ta nhất quán mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Trong mô hình đó, pháp luật giữ vị trí tối thượng; mọi tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật. Bầu cử là cơ chế nền tảng để hình thành nên các cơ quan quyền lực hợp hiến, hợp pháp làm tiền đề cho mọi hoạt động quản lý Nhà nước. Tăng cường pháp chế XHCN, kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, tiêu cực… đều gắn liền với việc nâng cao chất lượng đại biểu dân cử và hiệu quả hoạt động của các cơ quan do Nhân dân bầu ra. Vì vậy, mỗi kỳ bầu cử không chỉ là sự kiện chính trị quan trọng mà còn là bước củng cố niềm tin, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Lịch sử 15 nhiệm kỳ Quốc hội, cùng hoạt động của HĐND các cấp, đã chứng minh rõ: Bầu cử ở nước ta là hình thức thể hiện tập trung nhất bản chất dân chủ của chế độ XHCN. Quyền lực Nhà nước được xác lập từ lá phiếu của Nhân dân; ý chí của Nhân dân được thể chế hóa thành Hiến pháp, pháp luật; thành tựu phát triển đất nước ngày càng khẳng định trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và quốc phòng, an ninh. Mọi luận điệu xuyên tạc vì thế trở nên vô nghĩa trước thực tiễn sinh động của một Việt Nam ổn định, phát triển và hội nhập sâu rộng. Bảo vệ các giá trị của chế độ bầu cử chính là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đồng thời bảo vệ quyền làm chủ thiêng liêng của Nhân dân.
Đứng trước ngưỡng cửa của nhiệm kỳ 2026-2031, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp đang trở thành tâm điểm của sự kỳ vọng. Trong một thế giới đầy những biến số khó lường, “phẩm chất” và “trí tuệ” không còn là những danh từ trừu tượng, mà là tiêu chuẩn khắt khe để cử tri lựa chọn người đại diện cho mình. Hơn bao giờ hết, người dân mong mỏi một bộ máy thực quyền, biết lắng nghe để hoàn thiện thể chế và quyết liệt trong giám sát, nhằm giữ vững nhịp độ phát triển bền vững cho đất nước.
Khát vọng lựa chọn người xứng đáng chính là biểu hiện cụ thể nhất của ý chí dân tộc trong thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế sâu rộng. Từ lá phiếu của mỗi cử tri hôm nay sẽ tiếp thêm sức mạnh cho bộ máy Nhà nước ngày mai; từ niềm tin của Nhân dân sẽ kết tinh thành động lực đưa đất nước tiến xa hơn trên con đường hưng thịnh. Ngày nay, đất nước ta được bạn bè quốc tế trân trọng như “giọt mật” của hòa bình, hợp tác và tin cậy. Và chính những cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật, vì lợi ích Nhân dân sẽ tiếp tục vun đắp, bảo vệ và lan tỏa giá trị tốt đẹp ấy trên con đường dựng xây Tổ quốc Việt Nam XHCN ngày càng giàu mạnh, văn minh./.


