Chi tiết tin tức
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Đời người bên cây thốt nốt

- tại vùng Bảy Núi, An Giang, hàng thốt nốt cao vút in bóng lên nền trời như những cột mốc thời gian. Người ta rỉ tai nhau rằng, cây thốt nốt có tuổi thọ dài như ký ức của đất và cũng như chính cuộc đời đồng bào dân tộc Khmer nơi đây. Bao đời nay, loại cây này không chỉ hiện diện trong cảnh sắc, mà còn thấm vào từng nếp sống, từng bữa cơm, từng mùa Tết cổ truyền. Vì vậy, nói đến thốt nốt là nói đến đời người.

Ông Chau Oanh Si và các cháu bên hàng cây thốt nốt đang cho mật.
 

Ông Chau Oanh Si đã ngoài sáu mươi, ngồi dưới tán cây nhìn lên những thân cây thốt nốt cao lêu nghêu, cười khà: “Có thời điểm, cây thốt nốt còn nhiều hơn người ở đất này”. Câu nói nghe như chuyện vui nhưng lại chứa cả một ký ức dài. Năm 1959, ông từ Sóc Trăng theo gia đình đến vùng An Cư ngày nay lập nghiệp. Khi ấy, thưa người, ruộng rẫy bạt ngàn và thốt nốt vì thế tự nhiên mọc lên như thứ cây rừng. Trai tráng trong phum, sóc ở An Cư gần như ai cũng gắn đời mình với nghề lấy mật. Vốn liếng, theo lời ông Si chỉ cần “cái bụng không biết sợ độ cao”.

Nghề lấy mật thốt nốt nhìn qua tưởng đơn giản nhưng thực ra là nghề của sự gan dạ. Để trèo lên tới đọt cây cao mấy chục mét, người dân dùng thân tre ép sát vào thân thốt nốt, gọi là “đài”. Chiếc đài tre ấy mộc mạc nhưng là sinh kế của cả gia đình. Tre phải chọn già, thân thẳng, có thể dùng được hai năm. Nhưng nắng mưa dầm dãi, tre mục lúc nào không hay. Tai nạn vì thế không phải chuyện hiếm. Ông Si từng rơi xuống đất, trật tay, mặt sưng húp vì leo phải đài mục. Nhắc lại chuyện cũ, ông chỉ cười hiền: “Hồi đó đường thốt nốt rẻ rề, chừng 2.500 đồng/kg. Người giỏi mỗi ngày nấu được 30kg. Ở quê nghèo, làm ra tiền là quý rồi”. Nụ cười ấy mang theo sự chấp nhận, sự từng trải của một đời gắn bó với nghề.

Nghề leo lấy mật thốt nốt ở An Cư.
 

Ngày của người leo thốt nốt bắt đầu khi trời chưa kịp sáng. Lúc ấy, sương còn đọng trên lá, gió núi còn lạnh. Ông Si quảy mấy can nhựa ra đồng, leo hết cây này sang cây khác. Đến khi nắng gắt, mới xuống nghỉ. Ăn vội bữa trưa, lại tiếp tục. Mỗi ngày ông leo khoảng 30 cây, gom được 120 lít mật, đem về nấu đường. Cứ 30 lít mật tươi nấu được khoảng 4kg đường. Thốt nốt cho nước quanh năm, ít người sợ thất nghiệp. Chỉ có điều, mùa nắng nước nhiều hơn mùa mưa và trước Tết Chol Chnam Thmay là “mùa vàng” khi nhu cầu tăng cao.

Gắn bó mật thiết như thế, người làm nghề nhớ rõ từng cây. Cây nào đực, cây nào cái, nước ngon hay dở, “trái tính trái nết” ra sao, đài tre đã đến lúc phải thay hay chưa… Nghỉ một ngày là mất thu nhập một ngày, hôm sau đi làm cũng không bù lại được. Nghề này không cho phép lười biếng. Vòng đời cây thốt nốt kéo dài hàng chục năm. Từ lúc trồng đến khi khai thác phải mất ba mươi năm. Vì thế, ít ai nghĩ đến chuyện trồng cây để kinh doanh. Người ta chủ yếu thuê cây trồng sẵn. Giá thuê dao động khoảng 100.000 đồng/cây/năm. Có người thuê nguyên khoảnh ruộng, tính gộp vài triệu đồng mỗi năm. Dù vậy, người dân vẫn gắn bó, vì đó là nghề của cha ông, là kế sinh nhai quen thuộc.

Cây thốt nốt bám vùng đất Bảy núi bao đời vẫn xanh tươi và cho mật.
 

Đời nối đời, nghề nối nghề. Từ khi chưa đi học, anh Chau Cốp, con trai ông Si đã theo cha ra đồng. Năm 17 tuổi, Chau Cốp chính thức “ra nghề”. Anh nhớ cảm giác ban đầu, leo tới đâu run tới đó. Vậy mà đã hơn hai mươi năm trôi qua. Giờ đây, anh lại dắt con theo mình ra đồng thốt nốt. Đứa lớn chưa đầy mười tuổi, đứa nhỏ mới biết đi. Chúng đứng dưới gốc cây, ngước nhìn cha trèo lên cao, đôi mắt tròn xoe vừa sợ vừa tò mò. Hỏi sau này tụi nhỏ có theo nghề không, anh trầm ngâm khá lâu: “Trước mắt, tôi lo cho tụi nhỏ đi học. Đứa nào muốn theo nghề thì tôi truyền nghề. Biết đâu sau này tụi nhỏ cải tiến cách lấy mật khoa học hơn, nhẹ công hơn thì sao”. Lời nói ấy mang theo hy vọng về một tương lai khác nơi nghề truyền thống vẫn còn nhưng không quá nhọc nhằn.

Từ mật hoa thốt nốt, nay đã chế biến thành nhiều sản phẩm nổi tiếng.
 

Bởi thực tế, nghề leo thốt nốt đang đứng trước nhiều ngã rẽ. Một mặt, đó vẫn là nguồn thu nhập quen thuộc. Mặt khác, đời sống thay đổi khiến người trẻ có nhiều lựa chọn hơn. Nếu không có hướng đi mới, nghề có thể dần mai một. Và chính lúc ấy, những người từ nơi khác đến đã mang theo những ý tưởng mới. Chị Lý Hứa Thị Lan Phương từ TP. Hồ Chí Minh đến Bảy Núi với mong muốn nâng giá trị cây thốt nốt. Lần đầu đứng dưới hàng thốt nốt, chị ngẩng nhìn rất lâu. “Có tài nguyên phong phú mà không khai thác được thì phí quá”, chị nói với chúng tôi như giãi bày tâm sự trong lòng. Từ suy nghĩ ấy, chị bắt đầu hành trình kết hợp mật hoa thốt nốt với yến, tạo nên sản phẩm mới.Những ngày đầu không hề dễ dàng nhưng tâm huyết dần được đền đáp. Thương hiệu yến sào mật hoa thốt nốt của chị Phương ra đời, rồi tiếp tục là mứt thốt nốt, siro, mật sệt… 

Từ sản phẩm tươi đến cô đặc, tất cả đều được nghiên cứu với sự tham vấn của y học cổ truyền để đảm bảo giá trị dinh dưỡng. Cây thốt nốt từ sản vật bình dị bắt đầu bước vào thị trường với diện mạo mới: Sản phẩm dinh dưỡng, giá trị cao, hút khách. Sự thay đổi ấy mang lại niềm tin mới cho người dân. Họ không chỉ bán đường thốt nốt thô, mà có thể tham gia vào chuỗi giá trị cao hơn. Thu nhập vì thế cũng ổn định hơn. Những người từng lo nghề mai một, giờ lại thấy hy vọng mới đầy tích cực. Trên những cánh đồng Bảy Núi, hình ảnh người đàn ông trèo cây lấy mật như ông Si, anh Cốp vẫn còn đó. Nhưng dưới tán cây, họ đang bàn tính thêm những câu chuyện mới: Câu chuyện của khởi nghiệp, của khoa học công nghệ, của sản phẩm OCOP. Cây thốt nốt ngày nay ở Bảy Núi không chỉ là kế sinh nhai, mà đang trở thành thương hiệu của vùng đất miền biên viễn./.

Bài, ảnh: KHÁNH PHONG

Tác giả: Bài, ảnh: KHÁNH PHONG

Liên kết

Thống kê truy cập

Đang online: 1
Lượt truy cập hôm nay: 13
Trong tháng: 9.698
Tổng số lượt truy cập: 64.637