
Không có một hình ảnh cố định, tôi phác thảo trong ký ức mình những hình dung về người bác, qua lời kể của bà và những người thân. Đó là người con trai vạm vỡ đầy sức sống. Ngày đất nước giải phóng, bác mừng như cá gặp nước, ôm giấc mơ trở thành thầy giáo. Nhưng mùa thi chưa tới thì biên giới đã nổi lửa. Nhìn những làn khói pháo bay theo gió vắt ngang qua biên giới, những đợt súng nổ sáng rực hắt lên bầu trời như những đợt sấm kinh hoàng của đất trời, nhìn bầy em nheo nhóc đang nấp trong trảng – sê ông tôi dựng lên từ hồi chống Mỹ, bác tôi mím môi, cầm chặt nắm tay, xung phong lên đường ra trận.
Trong ký ức của bà tôi, vẫn nhớ mãi hình ảnh đứa con ngồi chờ mẹ may cho cái ruột tượng trước giờ lên đường nhập ngũ, ánh đèn dầu leo lét hắt lên vách, những bóng người ngồi gần như bất động, thời gian như cũng ngưng động mà tiếng pháo xa xa không thôi âm ỉ giữa đêm trường. Bà không có gì để dúi cho đứa con trai ngoài tấm thẻ bài cạo gió và chai dầu Nhị Thiên Đường còn đó vết mồ hôi. Đêm đó, với bà tôi nó dài đằng đẵng, dài đến tận bây giờ; kể cả khi thần trí của bà gần như đã hóa trắng như mây, bà vẫn mắc kẹt lại trong cái đêm tiễn con đi, nên những lúc chìm vào cơn lẫn lộ, bà gọi tên con, dẫu ban ngày vẫn kêu đám cháu chong đèn dầu lớn lên để nhìn con cho rõ mặt. Có lẽ trời đất thương bà tôi, nên trong sự nhớ quên chập choạng của bà, bà vẫn tin bác tôi còn sống và đêm trường có dài đến mấy thì ắt ngày mai bác cũng sẽ trở về đoàn tụ với bà.

Nhưng nỗi chờ của bà mấy mươi năm qua vẫn còn gói trong chiếc khăn mang tên mơ ước. Bác tôi đi bộ đội năm 1979, hy sinh trên chiến trường K, trong lần truy quyét tàn quân ở một cánh rừng sâu, và nằm lại đó. Hồi ấy, điều kiện còn nhiều thiếu thốn nên nỗi đau như bị nhốt trong chiếc lọ, cựa quậy mà chẳng thể làm gì hơn. gần 50 năm đã trôi qua, mỗi khi thấy cánh bướm bà bay về dập đờn trước nhà hay bầy cò trắng bay quần đảo sau nhà, bà nội tôi lại rơm rớm nước mắt. Trong những buổi chiều ấy, tôi cứ ngỡ khói un làm mắt bà cay. Đến khi tối về, những con đom đóm đậu lại trên vách mùng mới làm bà tôi vỡ òa nỗi niềm thành tiếng khóc nức nở. Bà khóc cho đứa con nằm lại ở nơi xa, khóc cho đoạn đường dài dằn dặt thời gian, không gian và bao mờ mịt của một phần máu thịt chính mình. Có lẽ nỗi chờ mong thì dài, mà sức người có hạn nên khi bà chìm vào những sự nhớ quên của tuổi già, bác tôi vẫn còn ở đâu đó nơi xa, chỉ trong trí nhớ bà tôi, bác chưa bao giờ mất.
Mười tám tuổi, lần theo những manh mối mỏng manh mà bà tôi chấp vá lại thành tấm bản đồ mờ sương khói suối mấy mươi năm ròng rã, tôi vác ba lô lên đường tìm bác. Những đồng đội cũ không còn nhiều nữa, người thân cận của bác đã mất, người biết sơ qua thì lại không biết rõ nơi chôn cất năm xưa. Mọi thứ gần như mờ dần đi theo thời gian, mà cánh rừng bên kia nước bạn thì mù mịt và dấu vết cũng ngày ngày đổi khác. Những buổi chiều gần như tuyệt vọng ấy, tôi đã tìm đến Núi Đất và may mắn gặp được các anh trong Đội Ḳ93, những người nhận lấy thông tin của tôi và mừng như gặp được sợi rễ con của chiếc cây già đang thầm lặng đâu đó trong lòng đất. Hồi ấy, tôi xin đi theo Đội để được tìm bác, tìm các liệt sĩ đã hy sinh, nhưng điều kiện có hạn nên chỉ ở nhà dõi theo Đội mỗi ngày với những thông tin nhắn gửi về từ biên giới.
Từ dạo đó, năm nào tôi cũng thực hiện hai lần về với núi Đất. Một lần sau Tết Nguyên đán khi chuẩn bị bắt đầu vào mùa khô, trước khi Đội K93 lên đường đi sang biên giới, và một đợt vào tháng 7 khi Đội bắt đầu trở về nội địa, đưa các liệt sĩ về yên nghỉ trên đất mẹ quê hương. Lần nào đến với Đội, tôi cũng cảm nhận được sự thân quen và những cảm xúc biết sơn sâu sắc trong từng câu chuyện kể. Ví như khi Đội chuẩn bị lên đất bạn, tôi thấy một số thành viên của đội cụ bị thêm viết bi, thuốc men và quần áo trẻ con. Hỏi ra mới biết, ở đất bạn, các anh em trong Đội gắn bó sâu sắc với người dân địa phương, từ việc nhờ người dân chỉ đường, hỗ trợ phương tiện đến nguồn thông tin, từ đó mà quý mến nhau nên những đợt đi vầy, các anh hay mang theo một số đồ để tặng trẻ con. Có anh nhớ tên thằng bé ở đầu phum, hay chạy theo Đội chơi, tuy nghèo nhưng rất nhiệt tình. Biết thằng bé hè này đi học ở chùa nên các anh mang theo viết, thước để tặng. Có anh kể, mang lên tặng củ ít lòng nhiều, nghe là đồ của Việt Nam, các em nhỏ mừng lắm.

Tôi vẫn nhớ trên trang fanpage của Đội, anh em kể lại, có lần khi nhận được thông tin phần mộ liệt sĩ nằm trong gò đất đang trồng bắp, bà con đất bạn sẵn sàng cho Đội đào mà không ngần ngại hay tiếc vụ mùa chờ thu hoạch. Cảm nhận được tình cảm của bà con, mỗi khi được tiếp nhận gạo, mắm muối, đội chia sẻ lại với bà con “lấy thảo”. Nhờ vậy mà ở đất bạn, bà con nhân dân bạn cũng chia sẻ, hỗ trợ hết mình. Nhắc đến đây, tôi nhớ những câu chuyện của Đại tá Huỳnh Trí viết về sự gắn bó giữa bộ đội ta và nhân dân bạn trong những năm tháng chống Mỹ và thời kỳ làm nghĩa vụ quốc tế. Phải chăng, mấy mươi năm qua, bộ đội ta vẫn sắt son với truyền thống bộ đội cụ Hồ, với lời dạy của Bác “giúp bạn là giúp mình”. Tôi mường tượng rằng, dấu chân anh em trong Đội giúp dân dựng lại nhà sau bão hay băng bó vết thương cho bà con đi ruộng, trùng khít lên những dấu chân mà bộ đội ta giúp dân cắt lúa, dựng nhà, trồng đậu ở cánh đồng này hồi năm nào còn đó chưa xa. Vậy nên những người già ngồi ở trước hiên nhà, khi thấy Đội đi qua hay chắp tay chào, “bộ đội Việt Nam”.
Và có lẽ, hơn ai hết, những chiến sĩ trẻ của Đội - những người sinh sau chiến tranh rất lâu như tôi, khi đi tìm các chú, lúc trở về sẽ hiểu rõ hơn bao giờ hết về sự gian khổ, mất mác, hy sinh của thế hệ đi trước trong những tháng năm chiến tranh ác liệt. Bởi, làm sao một chiến sĩ trẻ có thể hình dung được hết cái cảm giác băng rừng lội suối, khỉ ho cò gáy giữa đêm khuya; nhìn rõ từng lớp cao su mục dần dưới lớp đất đỏ quạch, những thân trai sau bao năm giờ còn lại những vụn xương và phía bên trên mặt đất đã xanh thắm lên cây cỏ bình yên. Làm sao để hình dung ra những đêm mưa rừng gầm thét phía trên nóc láng trại; hay sự bất lực sau một ngày lội rừng sâu đi làm nhiệm vụ trở về thì thấy láng trại sập tan hoang vì lũ quét. Có lẽ chỉ khi tự mình băng rừng, ngủ lán giữa mưa rừng, đào từng lớp đất đỏ..., những người lính trẻ mới phần nào hiểu được con đường mà cha anh đã đi. Để họ vững thêm ý chí và nuôi nghị lực cố gắng hết mình hoàn thành nghĩa vụ với đơn vị, với quê hương, với các anh hùng liệt sĩ và với cả những gia đình mấy mươi năm đang trông ngóng con về…
Mỗi lần lên thăm Đội, tôi mang những câu chuyện về kể cho bà nghe. Bà có khi nhớ, khi quên. Nhưng trong những lúc bà tỉnh táo, bà luôn lắng tai nghe và hỏi rành rọt từng chút một. Bà nói, thấy những người đi tìm đồng đội sao giống những người đi tìm bình yên cho bạn năm xưa quá. Bà thương anh em trong Đội như thương con mình. Dường như giữa hai thế hệ, luôn có một sợi dây kết nối nào đó, mà mỗi khi nhìn vào, tôi luôn thấy dấu chân những người lính giống hệt nhau.
Trong những lúc tỉnh táo hiếm hoi, bà tôi bảo, bà tin là bác tôi vẫn đang làm nhiệm vụ ở đâu đó chưa xong. Bác đang giúp đất tơi hơn, hay có một cái rễ con cần bác vun bồi… Và khi nào bác xong nhiệm vụ, bác sẽ trở vệ. Những đồng đội hôm nay như các anh ở Đội K93 cũng đang thực hiện nhiệm vụ, nhiệm vụ đưa những người lính hoàn thành nhiệm vụ trở về.
Những ngày tháng 7 trong không khí "Chiến dịch 500 ngày đêm" đưa các liệt sĩ về với đất mẹ yên nghỉ nghìn đời, tôi thấy bà mình như khỏe lại mỗi khi nghe tin tức từ Đội K93, dẫu là đứa con đó của một bà mẹ khác thì bà nội tôi vẫn mừng. Và những lúc bà chìm vào cơm lẫn lộn, bà vẫn tin, và chúng tôi càng tin hơn, một ngày nào đó bác tôi cũng như những người chiến sĩ năm xưa sẽ trở về. Tôi tin, Đội K93 cũng như các Đội, các anh đang làm nhiệm vụ thiêng liêng, sẽ là cầu nối cho hành trình trở về đầy vinh quang và xoa dịu ấy!


