
Việc lựa chọn quốc hiệu “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” là kết quả tất yếu của lịch sử cách mạng Việt Nam. Sau ngày đất nước thống nhất, yêu cầu đặt ra không chỉ là thống nhất lãnh thổ, mà còn phải thống nhất về tổ chức Nhà nước, thể chế chính trị và định hướng phát triển quốc gia. Quốc hiệu mới đã phản ánh đầy đủ bản chất của Nhà nước Việt Nam, đồng thời khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự lựa chọn của lịch sử và của Nhân dân.
Về phương diện chính trị - pháp lý, Quốc hiệu khẳng định rõ nước ta là một nước cộng hòa, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Những nguyên tắc đó được hiến định xuyên suốt trong Hiến pháp, đồng thời tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội, tạo nền tảng chính trị vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ khi được xác lập đến nay, Quốc hiệu “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” luôn được giữ nguyên qua các bản Hiến pháp năm 1980, 1992 và 2013. Sự nhất quán ấy không chỉ bảo đảm tính kế thừa của Nhà nước, mà còn góp phần giữ vững ổn định chính trị, củng cố niềm tin của Nhân dân và nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Thành tựu Đổi mới
Nếu Quốc hiệu “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” thể hiện mục tiêu và con đường phát triển của đất nước, thì gần 40 năm thực hiện công cuộc Đổi mới chính là minh chứng sinh động cho tính đúng đắn của sự lựa chọn ấy. Từ năm 1986, Việt Nam bước vào công cuộc đổi mới với xuất phát điểm vô cùng khó khăn. Nền kinh tế nhỏ bé, cơ sở vật chất thiếu thốn, đời sống Nhân dân còn nhiều gian nan, đất nước chịu tác động của bao vây, cấm vận. Song, bằng đường lối đổi mới đúng đắn, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khơi dậy khát vọng vươn lên, Việt Nam đã tạo nên bước chuyển mình mạnh mẽ.
Từ quy mô GDP chỉ khoảng 4,5 tỷ USD năm 1986, đến năm 2025 nền kinh tế đã đạt khoảng 514 tỷ USD, đứng thứ 32 trên thế giới. Không chỉ tăng trưởng về quy mô, chất lượng nền kinh tế cũng từng bước được nâng lên; môi trường đầu tư ngày càng cải thiện; kết cấu hạ tầng được đầu tư đồng bộ; khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành những động lực mới cho phát triển. Cùng với tăng trưởng kinh tế là những thành tựu nổi bật về an sinh xã hội. Tỷ lệ hộ nghèo từ mức trên 80% giảm xuống dưới 3%, đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia được cộng đồng quốc tế đánh giá cao về thành tựu giảm nghèo và phát triển con người. Người dân Việt Nam có điều kiện tiếp cận tốt hơn với giáo dục, y tế, nhà ở, việc làm và các dịch vụ xã hội cơ bản. Thành quả ấy phản ánh nhất quán mục tiêu xuyên suốt của chế độ: phát triển vì con người, lấy con người làm trung tâm, là chủ thể và là động lực của sự phát triển.
Trên lĩnh vực đối ngoại, Việt Nam từng bước khẳng định vị thế là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Quan hệ ngoại giao được mở rộng với nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế; 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) đã mở ra không gian phát triển rộng lớn, đưa nền kinh tế hội nhập ngày càng sâu rộng. Việt Nam nhiều lần đảm nhiệm thành công những trọng trách tại Liên hợp quốc và các diễn đàn đa phương, qua đó tiếp tục nâng cao uy tín và vị thế của đất nước.
Trên nền tảng những thành tựu đã đạt được, Đảng ta tiếp tục xác định tầm nhìn phát triển đến năm 2045, đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao và vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây không phải là mục tiêu đặt ra từ cảm tính, mà là sự kế thừa nhất quán tư duy lý luận của Đảng qua các thời kỳ.
Từ Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 đến Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011, nhận thức về mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng đầy đủ và toàn diện hơn. Từ 7 đặc trưng ban đầu được phát triển thành 8 đặc trưng cốt lõi, hướng tới xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; Nhân dân làm chủ; kinh tế phát triển; văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc; các dân tộc đoàn kết; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vững mạnh và quan hệ hữu nghị, hợp tác với các quốc gia trên thế giới.
Điều đáng chú ý là những đặc trưng ấy không chỉ dừng lại ở phương diện lý luận, mà ngày càng được cụ thể hóa thành các mục tiêu, chương trình và chính sách phát triển, lấy chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của Nhân dân làm thước đo cho hiệu quả xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Hiện thực hóa khát vọng hùng cường

Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội không chỉ được cụ thể hóa bằng những chiến lược ở tầm quốc gia mà còn được đặt ra ngay từ cấp cơ sở - nơi gần dân nhất, trực tiếp chăm lo đời sống Nhân dân và tổ chức thực hiện mọi chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Từ tinh thần “dân là gốc”, định hướng xây dựng mô hình “xã, phường xã hội chủ nghĩa” được xem là một hướng tiếp cận mới nhằm đưa những giá trị của chủ nghĩa xã hội đi vào cuộc sống bằng những tiêu chí cụ thể, thiết thực và có thể kiểm chứng.
Tại cuộc tiếp xúc cử tri Hà Nội ngày 04/5/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho rằng, đến năm 2045 Việt Nam có thể kết thúc thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; đồng thời gợi mở việc nghiên cứu thí điểm xây dựng mô hình “xã, phường xã hội chủ nghĩa”. Theo định hướng đó, mỗi địa phương không chỉ phát triển về kinh tế mà còn phải bảo đảm hệ thống hạ tầng đồng bộ, giáo dục và y tế chất lượng, môi trường sống an toàn, không gian công cộng hiện đại, dịch vụ công thuận tiện và chính quyền hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Điều đó cho thấy mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ngày càng được lượng hóa bằng những tiêu chí gắn chặt với đời sống hằng ngày của Nhân dân. Thành quả phát triển không chỉ được đo bằng tốc độ tăng trưởng kinh tế, mà còn bằng chất lượng cuộc sống, mức độ hài lòng của người dân và khả năng mọi người đều được thụ hưởng thành quả phát triển.
Theo Tiến sĩ Phạm Thị Hoàng Hà, Viện trưởng Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh), trong kỷ nguyên phát triển mới, việc cụ thể hóa các đặc trưng của chủ nghĩa xã hội ở cấp cơ sở có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhất là trong bối cảnh triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Quan điểm của V.I. Lênin: “Chúng ta đưa chủ nghĩa xã hội vào cuộc sống hằng ngày, và chúng ta phải tìm hiểu cuộc sống hằng ngày” tiếp tục gợi mở cách tiếp cận mang tính thực tiễn trong quá trình hiện thực hóa mục tiêu phát triển đất nước.
Lộ trình xây dựng mô hình này cũng được xác định theo từng bước, từ nghiên cứu, xây dựng bộ tiêu chí và tổ chức thí điểm; tiếp đến là hoàn thiện cơ chế, chính sách, nhân rộng mô hình; từng bước tích hợp vào chiến lược phát triển quốc gia, hướng tới mục tiêu đến năm 2045 hình thành những cộng đồng phát triển hiện đại, văn minh, giàu bản sắc, phản ánh sinh động những giá trị của chủ nghĩa xã hội Việt Nam trong thời kỳ mới.
Năm mươi năm mang Quốc hiệu “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” là hành trình đất nước vượt qua muôn vàn khó khăn để khẳng định bản lĩnh, ý chí và khát vọng vươn lên. Quốc hiệu ấy không chỉ ghi dấu một mốc son của lịch sử dân tộc, mà còn là biểu tượng của sự thống nhất ý chí và hành động trên con đường mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn. Nhìn về phía trước, hành trình xây dựng một nước Việt Nam phát triển, thu nhập cao vào năm 2045 vẫn còn nhiều việc phải làm. Song, nền tảng của nửa thế kỷ ổn định chính trị, những thành tựu to lớn sau gần 40 năm Đổi mới cùng khát vọng phát triển đang lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội là cơ sở để chúng ta vững tin vào tương lai./.


