Trung tướng Phạm Hồng Lợi sinh năm 1950 tại xã Khánh Bình, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau (nay là xã Khánh Bình, tỉnh Cà Mau). Năm 1967, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bước vào giai đoạn cam go, chàng thiếu niên Phạm Hồng Lợi lúc ấy 17 tuổi, đang là học sinh trường nội trú Khu Tây Nam Bộ hăng hái nhập ngũ. Giữa không khí sục sôi của phong trào “Ba sẵn sàng”, lý tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” khi ấy không chỉ là khẩu hiệu, mà đã thấm đẫm vào nhận thức của một thế hệ học trò trưởng thành trong vùng giải phóng.
Để chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Thường vụ Khu ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 9 quyết định thành lập Lữ đoàn 3117 gồm các tiểu đoàn bộ binh: 303, 307, 309, các đại đội binh chủng và Tiểu đoàn Tây Đô của tỉnh Cần Thơ, Tiểu đoàn 962 thuộc Đoàn 962. Sau hơn 3 tháng huấn luyện cấp tốc, chiến sĩ Phạm Hồng Lợi được biên chế vào Đại đội 3, Tiểu đoàn 307. Lúc bấy giờ, Cần Thơ có nhiều mục tiêu quan trọng của ngụy như: Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 - Vùng 4 chiến thuật (đường Hòa Bình), Bộ Chỉ huy tiểu khu Phong Dinh (đường Nguyễn Trãi); Trung tâm 4 nhập ngũ; Đài phát thanh Cần Thơ (đường Mạc Tử Sanh, nay là đường 30/4), trụ sở phái đoàn MAAG của Mỹ (đường Hùng Vương), Tòa lãnh sự quán Mỹ (đường Hòa Bình), sân bay Lộ Tẻ và Không đoàn 73, sân bay Trà Nóc và Không đoàn 74 thuộc Sư đoàn 4 không quân ngụy.
Nhớ về những ngày đầu ra trận, vị tướng già mỉm cười khi nhắc đến hình ảnh chính mình năm xưa. Ở tuổi 17, 18, do điều kiện kháng chiến thiếu thốn, thân hình ông gầy gò, không có bộ quân phục nào vừa vặn. “Lúc đó tôi còn nhỏ lắm. Đi đánh trận mà chiếc quần cứ rộng thùng thình, tôi vừa chạy vừa phải một tay giữ lấy cạp quần để khỏi tuột”, chú Chín Lợi kể lại. Hình ảnh ấy vừa hài hước vừa khắc họa chân thực tầm vóc của những người lính trẻ, khi ý chí chiến đấu và lòng yêu nước đã lớn nhanh hơn cả thể chất.
Trận đánh đầu tiên của người lính trẻ diễn ra tại sân bay Lộ Tẻ. Trong túi áo chỉ 10 viên đạn, một “gia tài” quý giá nhưng cũng là áp lực đè nặng lên vai người lính mới. “Thật sự, lúc đó tôi cũng rất hồi hộp khi lần đầu ra trận. Các anh đi trước chỉ bảo. Cứ thế, bằng bản năng và sự dìu dắt của đồng đội, tôi cứ tiến về trước theo mệnh lệnh của chỉ huy, cái chết dường như là một khái niệm xa vời, chỉ có nỗi sợ duy nhất là lạc mất đơn vị hoặc không hoàn thành nhiệm vụ được giao”, chú Chín kể.
Chiến trường miền Tây Nam Bộ những năm 1968 - 1972 vô cùng khốc liệt, đặc biệt là tại các căn cứ sân bay, nơi tập trung hỏa lực không quân của địch. Sân bay Lộ Tẻ là một trong những điểm nóng. Tại đây, đơn vị của chú Chín Lợi phải đương đầu với những cuộc phản kích điên cuồng của đối phương. Nhưng vết thương sâu sắc nhất trong tim vị tướng không nằm ở những làn bom đạn, mà là sự hy sinh của người thân. Ngay tại sân bay này, anh ruột của chú đã ngã xuống khi tuổi đời còn rất trẻ. Giọng vị tướng nghẹn ngào: “Biết bao đồng đội và anh tôi đã nằm lại nơi ấy. Những kỷ niệm đó, xương máu đó không lời nào diễn tả hết. Có những lúc thấy cái chết cận kề, thấy anh em hy sinh ngay trước mặt mà không thể làm gì khác ngoài việc nuốt nước mắt vào trong để tiếp tục tiến lên”. Chính nỗi đau riêng hòa cùng nợ nước đã hun đúc nên một người chỉ huy kiên cường, quyết đoán trên chiến trường sau này.
Sự thăng tiến của ông không đến từ bằng cấp hay thâm niên, mà được đo bằng những chiến công rực lửa. Ông là một trong những cán bộ tiêu biểu của Trung đoàn 1, Sư đoàn 330, đơn vị 3 lần được phong tặng Danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân. “Hồi đó chúng ta ra trận bằng tấm lòng và ý chí sắt đá. Chúng ta không có máy bay tân tiến nhưng chúng ta có sự đoàn kết và lòng dân”, chú Chín khẳng định. Ông luôn nhắc nhở cán bộ trẻ rằng, điểm khác biệt và sức mạnh của Quân đội ta chính là tình Quân Dân và tình đồng chí gắn bó máu thịt. Khép lại những trang ký ức, người CCB gửi gắm niềm tin vào đội ngũ cán bộ hiện nay: “Người chỉ huy gần với bộ đội chừng nào thì giải quyết công việc trong chiến đấu càng tốt. Anh em mới gắn bó và tuyệt đối trung thành”. Trong bối cảnh hiện nay, khi nhìn về những cuộc xung đột vũ trang trên thế giới, vị tướng 76 tuổi vẫn giữ vững quan điểm: Vũ khí có thể hiện đại, công nghệ tối tân nhưng sức mạnh cốt lõi vẫn là con người. Ông nhấn mạnh vào yếu tố “ý chí” và “tình nghĩa”. Ông cho rằng, nếu trong thời bình mà người chỉ huy tạo ra khoảng cách, phân biệt cán - binh thì khi bước vào lằn ranh sinh tử, sự ngăn cách đó sẽ trở thành tử huyệt.
Những lời tâm sự của Trung tướng, Anh hùng LLVT nhân dân Phạm Hồng Lợi không chỉ là ký ức cá nhân của một người lính, mà là một phần của lịch sử dân tộc. Nó nhắc nhở chúng ta rằng, hòa bình hôm nay không phải nghiễm nhiên mà có./.
Bài, ảnh: HỮU TÀI


