Chi tiết tin tức
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Hồn Ghe ngo và bước chân người kế nghiệp

- Trong đời sống văn hóa của đồng bào Khmer Nam Bộ, ghe ngo không chỉ là phương tiện đua tài trên sông nước mà còn là báu vật linh thiêng, biểu tượng của sức mạnh cộng đồng. Đằng sau những chiếc ghe dũng mãnh xé sóng là tâm huyết bảo tồn di sản của dòng họ Danh với 4 đời gắn bó, cùng sự chung tay của Chính quyền địa phương nhằm lan tỏa giá trị văn hóa đặc sắc miền Tây.

Nghệ nhân Danh Vũ đời thứ 4 của dòng họ Danh đang nối nghiệp gia đình đóng ghe ngo cho đồng bào Khmer tại ĐBSCL.
 

Khởi thủy từ chiếc thuyền độc mộc, ghe ngo ngày nay được chế tác dài tới 30m, chở được hàng chục tay bơi. Hai bên thân ghe được chạm trổ vảy rồng và những linh thú tinh xảo, phần đầu cong vút với đôi mắt “truyền thần” dẫn lối con thuyền lướt đi giữa sông dài. Khác với xuồng ghe mưu sinh, ghe ngo là “trái tim” của phum, sóc, chỉ xuất hiện trong những lễ hội trọng đại. Mỗi khi hạ thủy đều phải có nghi thức trang trọng của Nhà chùa và cộng đồng. Hòa thượng Lý Hùng, Phó Hội trưởng Thường trực Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước TP. Cần Thơ khẳng định: “Ghe ngo là sản phẩm sáng tạo của đồng bào dân tộc Khmer ở Tây Nam Bộ từ xa xưa. Chiếc ghe phải được đóng theo đúng quy cách, từ loại gỗ sao tốt nhất và từ bàn tay của những nghệ nhân ưu tú”.

Để làm nên những báu vật đạt đến độ tinh xảo ấy, miền Tây tự hào với dòng họ Danh ở xã Ngọc Chúc (tỉnh An Giang) với 4 đời gìn giữ nghề. Từ ông cố Chau Sua mang nghề khoét xuồng độc mộc từ vùng Bảy Núi (An Giang) về lập nghiệp, đến thế hệ của nghệ nhân Danh Én. Tin vào giá trị tâm linh của ghe ngo, ông Danh Én từng dồn hết trí tuệ sáng tạo nên những bộ khung sườn bền chắc. Năm 2003, nghệ nhân Danh Vũ (con trai ông Danh Én) đã chính thức “hồi sinh” nghề truyền thống vẻ vang của gia đình.

Dưới bàn tay của nghệ nhân Danh Vũ, những chiếc ghe ngo là sự giao thoa tinh tế giữa truyền thống và hiện đại. Nếu trước đây, để hoàn thành một chiếc ghe phải mất 9 tháng ròng rã, thì nay Danh Vũ dùng kỹ thuật ghép 5 tấm ván sao dài 15m. Anh không hơ lửa uốn lườn theo cách cũ mà chọn phơi khô tự nhiên để giữ độ bền của thớ gỗ, rút ngắn thời gian đóng ghe xuống chỉ còn 2 tháng.

Đặc biệt, bên trong lòng ghe, hai thân cây tràm được đặt dọc làm “xương sống”. Kết cấu này giúp ghe hòa cùng nhịp chèo, tạo độ nảy và lực đẩy đồng đều. Nhờ những cải tiến này, nếu trước năm 2000, ghe ngo phải mất hơn 4,5 phút để hoàn thành cự ly 1.200m thì nay chỉ mất hơn 2 phút. Nghệ nhân Danh Vũ chia sẻ: “Gỗ sao khi xuống nước không bị thấm và có độ đàn hồi rất tốt. Tuy nhiên, muốn ghe đạt tốc độ cao, quan trọng nhất là khâu ráp lườn để giảm ma sát, thợ phải biết cách buộc cần câu và cuối cùng là sức mạnh của các tay bơi”.

Sự miệt mài lặng thầm của nghệ nhân Danh Vũ không chỉ giữ gìn truyền thống gia đình mà còn bảo tồn “linh vật” ngàn năm của đồng bào. Niềm vui ấy nay càng được nhân lên khi lễ hội Đua ghe ngo được nâng tầm quốc gia. Thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển KT-XH vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhiều chiếc ghe ngo mới đã được Nhà nước tài trợ, trao tặng cho các chùa.

Trong bức tranh văn hóa đa sắc của vùng ĐBSCL, chiếc ghe ngo vẫn hiên ngang rẽ sóng. Đó không chỉ là câu chuyện của kỹ thuật đóng ghe, mà là biểu tượng của tinh thần đại đoàn kết, tình yêu quê hương và sức sống bền bỉ của con người vùng Châu thổ./.

Bài, ảnh: KIM LOAN

Tác giả: Bài, ảnh: KIM LOAN

Liên kết

Thống kê truy cập

Đang online: 1
Lượt truy cập hôm nay: 487
Trong tháng: 13.022
Tổng số lượt truy cập: 127.847