.jpg)
Ngược dòng thời gian hơn ba thập kỷ trước, cá tôm ở ĐBSCL còn nhiều vô kể. Người miệt vườn vo gạo, bắc nồi cơm lên bếp rồi mới thong thả xách chài ra bến sông, quăng một mẻ là đủ bữa cơm chiều. Từ đó, những xóm nghề ngư cụ ra đời như một lẽ tất yếu. Trong bức tranh đa sắc của các xóm nghề miền Tây, từ xóm lưỡi câu Mỹ Hòa, lợp lươn Cần Đăng (An Giang) đến lợp tép Hòa Long (Đồng Tháp), làng đan lưới Thơm Rơm (Cần Thơ) nổi lên như một “thủ phủ” ngư cụ trứ danh.
Năm 1980, một nhóm cư dân từ Thừa Thiên Huế di cư vào miền Nam lập nghiệp. Những lưu dân tinh ý nhận ra vùng đất “trên cơm, dưới cá” này đang thiếu những nông cụ đánh bắt chuyên nghiệp. Thuở ấy, người miền Tây chủ yếu dùng vó lưới thô sơ tự chế. Nhạy bén với thời cuộc, xóm người Huế dưới chân cầu Thơm Rơm bắt đầu giăng những đường chỉ đầu tiên. Từ vài nóc nhà, xóm nhỏ nhanh chóng mở rộng quy mô, trở thành nguồn cung dồi dào cho những mùa nước nổi bạt ngàn tôm cá. Đến năm 2012, nơi đây chính thức được công nhận là Làng nghề đan lưới Thơm Rơm.
Bà Đinh Thị Diệu Hiền, một người thợ gia công lâu năm nhớ lại: “Trước đây, xóm chỉ có vài trăm người làm. Tiếng lành đồn xa, người tứ xứ đổ về cư trú, học nghề. Bây giờ làng có trên 1.000 thợ gia công”. Nhắc đến lưới Thơm Rơm, dân hạ bạc vạn chài khắp nẻo miền Tây đều nể phục bởi độ bền, khả năng chịu lực trong cả ba môi trường ngọt - mặn - lợ và đặc biệt là kỹ thuật kẹp chì vào viền lưới tinh xảo. Trước năm 1995, khi máy móc chưa xuất hiện, lưới thô sau khi đan xong phải gắn chì hoàn toàn bằng thủ công, chính là dùng răng. Người thợ phải ngậm một bụm chì đã cắt nhỏ vào miệng. Dùng lưỡi lừa từng viên chì ra cửa miệng, đưa dây viền lưới vào và dùng sức của hàm răng cắn chặt lại. Có những người thợ gắn bó với nghề từ thuở thanh xuân, mỗi ngày ròng rã cắn đến 3kg chì, dập cho 600m lưới.
Ông Phạm Phước Phong, chủ cơ sở kinh doanh lưới Năm Tấn nhớ lại: “Những ngày đầu, răng ê ẩm, lưỡi bị chì cắt rát buốt không ăn nổi cơm. Sợ nhất là nhiễm độc chì. Hồi đó tôi có đứa cháu cắn chì thuê, nhiễm độc đến mức ói ra máu, phải nằm viện 3 - 4 tháng trời mới giữ được mạng”.
Sự nghiệt ngã của nghề đã thôi thúc ông Phan Thanh Dũng, một người thợ lão luyện của làng nghề mày mò sáng chế. Từ những đống phế liệu bỏ đi, ông chế tạo thành công chiếc máy dập chì tự động đầu tiên của vùng. Chiếc máy ra đời năm 1995 như một phép màu, một máy chấp 10 người làm thủ công mà lại vuông vức, chắc chắn. Ký ức “cắn chì” rớm máu chính thức bị lùi vào dĩ vãng.
Trải qua 46 năm thăng trầm, làng lưới Thơm Rơm ngày nay đã khoác lên mình một diện mạo hoàn toàn khác. Máy móc thay thế những công đoạn nặng nhọc, sản lượng tăng phi mã. Chị Nguyễn Ngọc Thuận, chủ cơ sở gia công hồ hởi khoe: “Hồi trước một người giỏi lắm ngày được 10 tay lưới. Giờ có máy móc hỗ trợ, một người làm hơn 20 tay lưới là bình thường. Cả làng đang hối hả làm lưới, lú, rập để chuẩn bị đón mùa nước nổi”.
Với mức giá rẻ hơn thị trường từ 10% - 15% (chỉ từ 60.000 đến 500.000 đồng/tấm), lưới Thơm Rơm không chỉ chiếm lĩnh thị trường các tỉnh thượng nguồn Mekong như An Giang, Đồng Tháp, Tây Ninh mà còn vươn xuất khẩu sang Campuchia, Lào, Thái Lan. Theo thống kê, làng nghề hiện có 40 cơ sở sản xuất và hơn 300 hộ gia công, mang về doanh thu ước đạt 40 - 45 tỷ đồng mỗi năm. Quan trọng hơn, nơi đây tạo ra mạng lưới an sinh xã hội vững chắc, mang lại thu nhập đều đặn từ 100.000 - 300.000 đồng/ngày cho hàng ngàn lao động.
Đứng trước thực trạng biến đổi khí hậu, mùa nước nổi ngày càng thấp, cá tép vơi dần, làng lưới Thơm Rơm cũng có lúc điêu đứng. Nông dân bỏ ghe xuồng lên bờ làm công nhân khiến sức mua nội địa sụt giảm. Nhưng trong cái khó ló cái khôn, nhờ uy tín lâu năm, các cơ sở chuyển hướng đánh mạnh vào gia công xuất khẩu. Họ chuyển sang sản xuất các loại lưới mắt to, lú mắt thưa. Những ngư cụ này được thiết kế để chỉ bắt cá lớn, chừa lại đường sống cho cá bé, tôm nhỏ lọt qua, để chúng có cơ hội sinh sôi nảy nở cho những mùa lũ năm sau. Sự dịch chuyển từ các ngư cụ tận diệt bằng điện sang sử dụng lưới truyền thống Thơm Rơm đang góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ môi trường thủy sinh.
Dù con nước vơi hay đầy, dù sản vật dòng sông Mekong không còn hào phóng như ba thập kỷ trước, xóm nghề dưới chân cầu Thơm Rơm vẫn miệt mài sáng đèn mỗi tối. Những người thợ không chỉ đan cước, dập chì, mà họ còn gửi vào đó cả những niềm hy vọng. Hy vọng về những mùa nước nổi hiền hòa, về những khoang thuyền nặng cá, và về một sức sống mãnh liệt của vùng đất Chín Rồng không bao giờ lụi tắt./.


