Cơ duyên từ sự khắc nghiệt của thiên nhiên
Ở miền Tây Nam Bộ, chiếc lu được ví như một phần không thể thiếu của cuộc sống nông thôn. Lu lớn dùng để trữ nước mưa, nước sông lắng phèn; lu vừa đựng gạo, đậu, mè; lu nhỏ thì dùng muối dưa, ủ mắm. Nghề đúc lu ở Hòa Lợi bắt nguồn từ một cơ duyên mang tính lịch sử. Xã Hòa Lợi nằm ven sông Cổ Chiên và giáp biển, mùa mưa có nước ngọt tưới tiêu nhưng giông bão hoành hành, mùa khô thì nắng như đổ lửa. Bà con phải băng qua những cánh đồng hàng cây số để gánh nước về sinh hoạt. Rồi một ngày, có người từ Mỏ Cày chạy về Hòa Lợi lánh nạn đã xin đổi cái lu lấy một giạ rưỡi lúa. Nhận thấy giá trị thiết thực và sự khan hiếm của vật dụng này, ông Đỗ Văn Đây, một người dân địa phương, đã cất công tìm hiểu. Bằng sự nhạy bén, sau một tuần đốn cây quao, xả ván làm khuôn, ông Đây đã đúc thành công chiếc lu đầu tiên. Từ thời điểm đó, ông trở thành nghệ nhân khởi xướng, đặt nền móng cho làng nghề đúc lu Hòa Lợi.

Nguyên liệu chính sản xuất lu là đất sét được khai thác từ các thửa ruộng tại địa phương. Để ra đời một chiếc lu hoàn chỉnh, người thợ phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình nhiều bước: Đạp đất, ráp khuôn, đắp đất, trộn xi măng, vuốt láng, lên hồ và kéo miệng. Trong đó, ráp khuôn và làm nòng là khâu khó nhất, còn bí quyết làm nên độ bền chắc của lu nằm ở tỷ lệ trộn hồ - một kỹ thuật mà đến nay những người thợ lão luyện vẫn xem là bí quyết riêng. Ở làng nghề này, sự phân công lao động diễn ra rất tự nhiên dựa trên thể trạng từng người: Thanh niên thì đảm nhận việc nhồi bùn; người tỉ mỉ, khéo tay thì phụ trách vuốt láng. Thợ chuyên nghiệp phải thức dậy từ 3 giờ sáng để nhồi bùn chuẩn bị cho mẻ đúc mới, còn lao động thời vụ thì ngày làm đồng, tối về góp sức đúc lu. Chính vì sự vất vả và khắt khe về kỹ thuật, người dân trong vùng từng truyền tai nhau câu nói: “Muốn học làm lu thì về Hòa Lợi làm dâu”.
Dù cực nhọc, nghề đúc lu đã mang lại sự đổi thay ngoạn mục cho kinh tế địa phương. Giai đoạn 1988 - 2002 được xem là thời kỳ hoàng kim của làng nghề. Vào lúc cao điểm, toàn xã có hơn 100 hộ gia đình tham gia sản xuất, mỗi xưởng cung ứng ra thị trường khoảng 2.000 chiếc lu mỗi ngày. Chiếc lu Hòa Lợi với dung tích từ 80 - 120 lít nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường nhờ tính tiện dụng và khả năng cung ứng tại chỗ.
Giải quyết việc làm và lưu giữ ký ức
Không chỉ mang lại sự phồn vinh cho các chủ cơ sở, nghề đúc lu còn giải quyết bài toán sinh kế cho hàng trăm hộ dân. Ông Nguyễn Thanh Điền, ngụ xã Quới Điền cho biết: “Đây là nghề đặc trưng, ban ngày làm việc khác, tối về có thể làm lu. Từ khi có làng nghề đến bây giờ giải quyết việc làm cho lao động địa phương rất nhiều, riêng ấp này cũng được 400 - 500 lao động, nhờ vậy bà con có thu nhập mà không cần đi làm ăn xa. Hòa Lợi là một trong những xã một năm có mùa nước ngọt và mùa nước mặn. Từ đó người dân mua lu trữ nước ngọt để phục vụ sản xuất, sinh hoạt. Đây cũng là biện pháp trữ nước ngọt hữu hiệu”.
Nhiều thế hệ trong một gia đình đã gắn bó và ăn nên làm ra nhờ nghề này. Chị Lê Thị Hoa, ngụ xã Quới Điền chia sẻ: “Ban đầu cha tôi làm, sau đó truyền nghề cho chúng tôi. Nghề cũng ổn định, vợ chồng làm một ngày, trừ chi phí thu nhập gần 200 ngàn đồng”.
Cùng với sự phát triển của xã hội, từ năm 2005, thị trường lu đất bắt đầu bước vào giai đoạn bão hòa. Nguyên nhân trực tiếp là sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các thiết bị trữ nước công nghiệp như bồn nhựa, bồn inox, hồ xây bê tông... Đồng thời, hệ thống nước máy phủ khắp thôn, xóm, làm giảm nhu cầu trữ nước mưa, nước sông. Do đó, nhiều hộ đã chuyển đổi, ứng dụng kỹ thuật đúc lu sang sản xuất các loại bếp, bàn ghế xi-măng giả gỗ. So với làm lu phải thức khuya dậy sớm và tuân thủ nghiêm ngặt các yếu tố thời tiết, kỹ thuật, công việc mới nhẹ nhàng hơn. Từ đó, làng nghề đúc lu thu hẹp dần. Đến năm 2016, những xưởng đúc lu cuối cùng tại địa phương chính thức tắt lửa, khép lại một làng nghề truyền thống.
Ngày nay, dù đã có nước máy sinh hoạt, nhiều gia đình vẫn giữ lại thói quen cũ dự trữ nước bằng lu. Hình bóng chiếc lu nơi góc sân, hiên nhà nhắc nhớ về hình ảnh làng quê miền Tây sông nước một thời gian khó./.


