.jpg)
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, lực lượng vũ trang và hầu hết cán bộ cách mạng ở miền Nam tập kết ra Bắc. Một số ít được phân công ở lại rút vào bí mật. Ngày 09/9/1954, Bộ chính trị quyết định giải thể Trung ương Cục và lập lại Xứ ủy Nam bộ, do đồng chí Lê Duẩn làm bí thư; giải thể các Phân liên khu, thành lập Liên tỉnh ủy Trung Nam bộ và Liên tỉnh ủy Tây Nam Bộ. Ngày 06/9/1954, Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) ra chỉ thị về tình hình và nhiệm vụ công tác mới ở miền Nam: “Phải sắp xếp cán bộ, bố trí lực lượng, đảm bảo việc che giấu được lực lượng, vừa lợi dụng những khả năng thuận lợi mới để hoạt động, thực hiện chủ trương chính sách và khẩu hiệu mới của Đảng”.
Để thực hiện cuộc chiến tranh xâm lược, Mỹ xây dựng ở miền Nam Việt Nam bộ máy tay sai Ngô Đình Diệm. Quân sự hóa bộ máy ngụy Sài Gòn, thi hành các biện pháp “Tố cộng, diệt cộng”, chúng muốn nhanh chóng “Loại Việt cộng ra ngoài vòng pháp luật”.
Tháng 12/1956, Xứ ủy Nam Bộ họp tại Phnôm-pênh (Thủ đô Campuchia) đã xác định “Đấu tranh chính trị phải có vũ trang tự vệ, phải có lực lượng vũ trang thích hợp làm công tác vũ trang tuyên truyền, phát động quần chúng diệt ác, phá kềm, hỗ trợ lực lượng đấu tranh chính trị”. Trước phong trào đấu tranh của quần chúng ngày càng lên cao, địch biết rõ có sự lãnh đạo của cách mạng nên chúng đã tiến hành tăng cường các biện pháp trả thù khốc liệt hơn. Chúng ráo riết mở các chiến dịch “Tố cộng, diệt cộng” thành nhiều đợt kéo dài từ tháng 6-1955 đến tháng 6-1956, tiếp theo từ tháng 7-1956 đến tháng 6-1958. Nhân dân miền Tây Nam bộ sôi sục căm thù, muốn vùng lên đấu tranh vũ trang chống lại địch.
Xứ ủy Nam bộ chủ trương: lợi dụng các đơn vị vũ trang giáo phái chống lại Mỹ -Diệm, tranh thủ lực lượng vũ trang giáo phái để xây dựng lực lượng vũ trang ta, thuyết phục chỉ huy lực lượng vũ trang giáo phái cùng ta đánh lại Mỹ - Diệm. Từ năm 1956 trở đi, lực lượng vũ trang giáo phái Hòa Hảo đã ngả hẳn về ta, các tỉnh của miền Tây đã đưa cán bộ vào nắm các tiểu đoàn. Tất cả các đơn vị giáo phái đều có đảng viên, phần lớn biên chế được chính trị viên, có chi bộ lãnh đạo. Kết quả lớn nhất của công tác tuyên truyền giác ngộ cách mạng cho lực lượng vũ trang giáo phái Hòa Hảo là ta đã biến họ từ đám tàn quân hỗn loạn trở thành lực lượng đánh giặc tiêu diệt được nhiều sinh lực địch.
Năm 1956, Xứ ủy Nam Bộ họp ở Phnôm-pênh (Campuchia) do đồng chí Lê Duẩn chủ trì đã chỉ rõ: “Lực lượng vũ trang danh nghĩa giáo phái Hòa Hảo không còn thích hợp, vì giáo phái đã đầu hàng địch gần hết, ta phải thành lập lực lượng vũ trang tuyên truyền có lợi hơn”. Quán triệt chủ trương của Xứ ủy các địa phương vừa chuẩn bị mọi mặt cho việc thành lập lực lượng vũ trang tuyên truyền vừa tích cực đưa người cài cắm vào hàng ngũ địch, tổ chức cơ sở cách mạng trong lòng địch, tranh thủ gài cán bộ hợp pháp vào 50% hệ thống tề xã của địch.
.jpg)
Tại các tỉnh miền Trung Nam bộ tích cực thành lập các đơn vị lực lượng vũ trang ở Cao Lãnh - Kiến Phong, ta thành lập Tiểu đoàn Đinh Bộ Lĩnh, sau đó đổi lại thành Tiểu đoàn 5. Tỉnh Vĩnh Long thành lập tiểu đoàn lấy tên Lý Thường Kiệt, sau đổi lại là Tiểu đoàn 857. Ở Bạc Liêu tổ chức hoạt động vũ trang ở các huyện Đầm Dơi, Cái Nước, U Minh Thượng, U Minh Hạ, sau đó xây dựng phát triển thành 6 khung đại đội nữa để bổ sung cho các tỉnh miền Tây. Đến năm 1957, tỉnh Kiến Phong thành lập 2 đại đội (đại đội 350 và 355). Tất cả các đơn vị lực lượng vũ trang của Liên tỉnh ủy miền Trung và miền Tây Nam bộ đều hoạt động theo phương thức bí mật.
Cuối năm 1957, phong trào cách mạng ở miền Tây và miền Trung Nam bộ đứng trước nhiều khó khăn thử thách quyết liệt hơn. Tháng 12-1958, địch gây ra vụ thảm sát tù nhân ở nhà tù Phú Lợi (Thủ Dầu Một). Tháng 4-1959, chúng mở chiến dịch “Đồng tâm diệt cộng”. Ngày 6/5/1959, thực hiện luật 10/59 chúng lê máy chém đi khắp miền Nam. Chỉ tính trong 2 năm (1957-1959) tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng đã có 20.000 người bị bắn giết, tù đày, trong đó có 11.270 cán bộ đảng viên. Hai tỉnh Trà Vinh, Vĩnh Long có 4.405 người bị giết, 27.500 người bị tù đày... Tội ác của Mỹ - Diệm ngày càng chồng chất, sự căm thù phẫn nộ, uất ức của các tầng lớp nhân dân lên rất cao, phải vùng lên đấu tranh để cứu mình và cứu nước.
Ngày 13/01/1959, trên cơ sở Bản đề cương cách mạng miền Nam của đồng chí Lê Duẩn, Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) đã ra Nghị quyết 15 xác định: “Con đường phát triển của cách mạng giải phóng miền Nam mà nhiệm vụ trước mắt là đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ. Phương pháp cách mạng miền Nam dùng bạo lực cách mạng, từ đấu tranh chính trị tiến lên kết hợp đấu tranh vũ trang và dự kiến khả năng cách mạng miền Nam sẽ phát triển thành một cuộc đấu tranh vũ trang trường kỳ". Trung ương cho mở tuyến đường mòn Trường Sơn và đường vận chuyển trên biển để chi viện cho cách mạng miền Nam.
Bắt đầu từ tỉnh Bến Tre thuộc Liên tỉnh ủy miền Trung Nam bộ, cuộc Đồng Khởi đã được chuẩn bị từ tháng 1/1959, và đã nổ ra vào ngày 17/1/1960. Như những đợt sóng tuôn trào lan tỏa khắp các tỉnh Nam bộ. Hàng loạt đồn bót của địch và 2/3 bộ máy kềm kẹp của địch bị tan rã, chính quyền cách mạng ở cơ sở vùng nông thôn hầu hết đã được thành lập, lực lượng cách mạng làm chủ các vùng giải phóng rộng lớn. Ngày 20/12/1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam được thành lập và ra mắt tại miền Đông Nam bộ. Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Giải phóng miền Nam là Luật sư Nguyễn Hữu Thọ.
Sau cuộc Đồng Khởi năm 1960 ở chiến trường Đồng bằng sông Cửu Long chia thành 3 vùng rõ rệt: vùng giải phóng, vùng tranh chấp và vùng bị địch kềm kẹp. Từ khởi nghĩa từng phần đã phát triển thành cuộc chiến tranh cách mạng, cuộc chiến tranh nhân dân toàn dân toàn diện do Đảng Lao động Việt Nam lãnh đạo, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang toàn miền Nam. Kết quả lớn nhất là giành thắng lợi quan trọng bằng cuộc Đồng Khởi 1960, làm cơ sở cho Trung ương Đảng ra nghị quyết lãnh đạo nhân dân cả nước dồn sức cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, thực hiện nguyện vọng: giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Trong 5 năm sống dưới chế độ độc tài vô cùng hà khắc của chính quyền Mỹ - Diệm, nhân dân, cán bộ, đảng viên và lực lượng vũ trang các tỉnh miền Trung và miền Tây Nam bộ đã chủ động vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ hy sinh, đấu tranh chống địch khủng bố, phát triển lực lượng tiến lên đấu tranh chính trị kết hợp vũ trang và khi có Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng, phát triển lên thành phong trào cách mạng của quần chúng tiến tới Đồng Khởi giành chính quyền. Đưa cách mạng miền Nam chuyển sang một bước ngoặt mới, tạo tiền đề mới cho sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đi dần đến thắng lợi trong những năm tháng sau này./.


