
Thực chất chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ chỉ là hình thức “Đổi màu da trên xác chết”, tham vọng xâm lược thôn tính miền Nam Việt Nam chưa hề thay đổi, Mỹ dùng người Việt để đánh người Việt thay cho quân Mỹ và mở ra khả năng rút quân viễn chinh Mỹ để giảm bớt thương vong.
Để thực hiện các bước âm mưu chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, Mỹ ra sức hiện đại hóa quân ngụy. Quân đội ngụy Sài Gòn từ 800.000 (năm 1969) lên hơn 1 triệu (năm 1970). Bộ máy bình định của Mỹ - ngụy được thành lập từ Trung ương đến ấp xã. Thủ đoạn của Mỹ - ngụy rất thâm độc, chúng tăng cường càn quét, đánh phá vào các vùng giải phóng của ta, để gom dân, chia cắt Nhân dân với cách mạng. Kết hợp tuyên truyền xuyên tạc lừa mị, mua chuộc, ép dân trong vòng kềm kẹp của chúng. Cùng với đó, chúng tiến hành phá hoại sản xuất, phong tỏa kinh tế khu vực ta kiểm soát. Triệt phá địa hình bằng chất độc khai hoang và huy động lực lượng chặt phá. Mở rộng chiến trường sang đất nước Lào và Campuchia, đánh mất chỗ dựa của cách mạng miền Nam và đường hành lang vận chuyển từ miền Bắc vào chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam.
Tại chiến trường miền Tây Nam bộ (Khu 9), chiến dịch bình định của Mỹ - ngụy càng ác liệt hơn. Các tỉnh Trà Vinh, Vĩnh Long là trọng điểm bình định của vùng 4 chiến thuật địch. Cả vùng Đồng bằng sông Cửu Long là “trọng điểm quốc gia số 1” để đánh phá, bình định. Mỹ tăng cường xuống miền Tây Nam bộ thêm 2 chiến đoàn xe bọc thép, 2 giang đoàn tàu chiến đấu, 2 lữ đoàn thủy quân lục chiến, 1 liên đoàn biệt động, cùng với Sư đoàn bộ binh chủ lực số 9 và Sư đoàn 21, liên tục mở các cuộc càn quét quy mô lớn lấy tên là “Cửu Long dậy sóng” và “Nhổ cỏ U Minh”. Địch càn quét đến đâu tổ chức hình thành hệ thống đồn bót đến đó, mỗi xã đóng từ 3 - 6 đồn, nhiều xã từ 14-15 đồn, cá biệt như xã Lục Sỹ Thành (cù lao Mây nam Trà Ôn - Vĩnh Long) chúng đóng đến 29 đồn bót.
Trước và trong Tết Mậu Thân 1968, Quân khu có hàng trăm xã được giải phóng, đến 1969 chỉ còn 4 xã của tỉnh Kiến Tường và Kiến Phong giáp với biên giới Campuchia nhưng cũng không còn dân. Lực lượng vũ trang địa phương các tỉnh bị teo lại, thiếu hụt quân số nghiêm trọng, nhưng người bổ sung tại chỗ rất khó khăn, thanh niên không còn hăng hái đi bộ đội giải phóng và vào du kích bộ đội địa phương như trước nữa. Địch ráo riết bắt lính đôn quân, số cầu an tìm cách lẩn trốn ra các đô thị. Công tác bảo đảm hậu cần tại chỗ của ta gặp rất nhiều khó khăn. Đáng lưu ý hơn là tình hình tư tưởng, niềm tin và quyết tâm chiến đấu của lực lượng vũ trang và quần chúng Nhân dân, của cán bộ địa phương giảm sút. Nghiêm trọng hơn một số cán bộ, đảng viên ở địa phương và trong các đơn vị lực lượng vũ trang bị dao động, nảy sinh tiêu cực, bỏ ngũ về làm ăn hoặc đi chiêu hồi đầu hàng địch.
Trước tình thế khó khăn đó, tháng 2/1969, Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 8 tổ chức Hội nghị tại Tứ Thường huyện Hồng Ngự, tỉnh Kiến Phong để tìm biện pháp tháo gỡ khó khăn, ra một số chủ trương, biện pháp khắc phục, chấn chỉnh, xây dựng, khôi phục lại tư tưởng kiên quyết bám trụ, tích cực xây dựng cơ sở, tạo thế tạo lực, đẩy mạnh chiến tranh nhân dân bằng “2 chân, 3 mũi” tiến công làm tan rã từng bộ phận địch, giành thắng lợi từng phần, chuẩn bị thời cơ giành thắng lợi lớn hơn, trở lại làm chủ xã ấp như trước Tết Mậu Thân 1968.
Tháng 4/1969, Bộ chính trị Trung ương Đảng họp ra quyết định và chỉ đạo cho Trung ương Cục, Bộ chỉ huy Miền: Phải phát huy thắng lợi đã đạt được, tiếp tục đẩy mạnh phong trào tổng công kích, tổng khởi nghĩa, đẩy mạnh 3 mũi tiến công, kết hợp tiến công ngoại giao. Ra sức xây dựng lực lượng về chính trị, phát triển tiến công một cách toàn diện, liên tục và mạnh mẽ, làm thất bại các mục tiêu và biện pháp chiến lược phòng ngự của địch. Tháng 6/1969, Quân ủy và Bộ chỉ huy Miền xác định nhiệm vụ cho các chiến trường: tiến công địch cả 3 vùng... làm thất bại chiến lược “quét và giữ”... đánh bại âm mưu tạo thế mạnh và chủ trương Việt Nam hóa chiến tranh của chúng.
Cùng với đó, tiếp tục bồi dưỡng khí tiết cách mạng, nêu cao phẩm chất đạo đức chủ nghĩa anh hùng cách mạng, cổ vũ tinh thần xả thân vì nước, đồng thời xây dựng một ý thức tổ chức kỷ luật cao, tinh thần đoàn kết nhất trí muôn người như một, kiên quyết xông lên giành thắng lợi quyết định. Chống mọi biểu hiện dao động trong chiến đấu, cầu an, bảo mạng, tự do vô kỷ luật và mọi biểu hiện xấu của chủ nghĩa cá nhân...
Sau khi Mỹ mở rộng chiến tranh ra 3 nước Đông Dương, từ tháng 5/1970 đến xuân hè 1971 (khoảng 1 năm), Mỹ ngụy bị thất bại nặng nề ở các chiến trường Khe Sanh - Quảng Trị, Đường 9 Nam Lào. Trong khi ấy bộ đội chủ lực ta mạnh lên chưa từng thấy, đánh hợp đồng quân binh chủng giành thắng lợi lớn. Đường Trường Sơn vận tải vào Nam được mở rộng, chuyên chở bằng cơ giới nhanh và số lượng lớn. Bộ đội miền Bắc vào đến chiến trường miền Nam nhanh hơn. Vũ khí trang bị cho các đơn vị được tăng cường mạnh hơn trước. Thế và lực giữa ta và địch có những thay đổi căn bản, cục diện chiến trường đồng bằng Nam bộ có chuyển biến quan trọng.
Sau khi Hiệp định Pari được ký kết, địch tiến hành mở nhiều cuộc hành quân càn quét “tràn ngập lãnh thổ” hòng chiếm đất, giành dân, phá hoại hiệp định. Để tăng cường lực lượng trực tiếp chiến đấu, Bộ Tư lệnh Quân khu 9 quyết định giảm quân số ở các cơ quan, tăng cường cán bộ lãnh đạo chỉ huy cùng với việc tuyển thêm quân, điều chuyển lực lượng ở một số đơn vị, thành lập thêm 2 tiểu đoàn “Quyết thắng” (Tiểu đoàn quyết thắng 1 do Bộ tham mưu chỉ huy; Tiểu đoàn quyết thắng 2 do Phòng chính trị quản lý). Mặc dù mới thành lập, vừa ổn định tổ chức, vừa huấn luyện học tập quán triệt nhiệm vụ, vừa triển khai nhiệm vụ chiến đấu, cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn đã giành thắng lợi ngay từ trận chiến đấu đầu tiên: diệt gọn đồn Hai Lân; đánh thiệt hại 2 đồn Chuối Vàng, Chuối Bạc ở Xẻo Rô.
Về chất lượng chính trị của lực lượng vũ trang Quân khu 9 đến cuối năm 1974 rất cao (có 44,3% quân số là đảng viên), toàn Đảng bộ có 6.760 đảng viên, có 1.016 chi bộ, trong đó 208 chi bộ chiến đấu. Tháng 12/1974, Cục chính trị triển khai các chủ trương biện pháp công tác Đảng, công tác chính trị trong mùa khô 1975-1976; tổ chức sinh hoạt Chỉ thị số 21/CT của Quân ủy Miền về chuẩn bị thực hiện chế độ quân hàm trong quân giải phóng miền Nam./.


