Chi tiết tin tức
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Cơ quan Chính trị Quân khu 8 và Quân khu 9 giai đoạn (1961 - 1965)

- Trước thắng lợi dồn dập của cách mạng miền Nam trong cuộc Đồng Khởi năm 1960, lực lượng vũ trang và Nhân dân ta ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long tiến lên làm chủ 60% đất đai. Chính quyền Ngô Đình Diệm bộc lộ nhiều mâu thuẫn, nội bộ lục đục chia rẽ và suy yếu, có nguy cơ bị đảo chính.

Thực hiện chủ trương của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 3 về tăng cường sự lãnh đạo của Trung ương đối với cách mạng miền Nam, ngày 23/1/1961, Bộ Chính trị quyết định thành lập Trung ương Cục thay Xứ ủy Nam bộ. Đồng chí Nguyễn Văn Linh (Mười Cúc) được chỉ định làm Bí thư.

Ngày 15/2/1961, tại Chiến khu D, Trung ương Cục tổ chức Hội nghị quân sự chính thức thống nhất các lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam thành “Quân giải phóng miền Nam” và là một bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đầu năm 1961, Liên tỉnh ủy miền Tây Nam bộ họp mở rộng, hội nghị đã đánh giá thắng lợi to lớn của phong trào Đồng Khởi năm 1960  và đề ra chủ trương tiếp tục đẩy mạnh cao trào nổi dậy của quần chúng.

Ngày 10/11/1961, Ken-nơ-đi trúng cử Tổng thống Mỹ. Quyết định chuyển sang chiến lược “chiến tranh đặc biệt” và thông qua kế hoạch “chống nổi dậy” ở miền Nam. Lập kế hoạch bình định miền Nam trong vòng 18 tháng (từ tháng 6/1961 đến cuối năm 1962). Chúng lấy 2 nơi là tỉnh Quảng Trị (miền Trung) và tỉnh Vĩnh Long (Nam bộ) để thí điểm kế hoạch bình định.

Từ đầu năm 1961, Liên tỉnh ủy miền Tây Nam bộ lúc này đã chuyển thành Khu ủy Tây Nam bộ (T3) tổ chức Hội nghị quân sự Khu. Hội nghị phổ biến việc thành lập Ban quân sự Khu (tức Bộ Tư lệnh Quân khu sau này) và quyết định thành lập các Phòng tham mưu, chính trị, hậu cần, Văn phòng ban quân sự Khu. Quyết định xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu gồm 3 thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích ấp, xã), thành lập các đơn vị chủ lực Quân khu, rút quân từ các tỉnh lên, mỗi tiểu đoàn chủ lực biên chế quân số 1.000 người. Khu ủy chủ trương chuyển toàn bộ cơ quan về Cà Mau (rừng tràm, rừng đước) để xây dựng căn cứ chiến đấu lâu dài.

Khu ủy thành lập Bộ Tư lệnh Quân khu 8. Các cơ quan Quân khu được thành lập lúc đầu gọi là Ban Tham mưu, Ban Chính trị, Ban Hậu cần, (đến tháng 9/1963 mới đổi lại thành Phòng Chính trị). Cũng trong hội nghị này quyết định đổi tên Quân khu 8 và Quân khu 9 thành Quân khu 2 và Quân khu 3 với mật danh T2 và T3.

Xây dựng cơ quan chính trị 2 Quân khu làm tham mưu cho Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu lãnh đạo, chỉ huy đơn vị và giúp các cấp triển khai các mặt công tác Đảng, công tác chính trị. Phòng chính trị tập trung biên soạn những nội dung chính: Ngành tuyên huấn biên soạn tài liệu giáo dục có chủ đề “Thương cán ái binh”, “Tam đại dân chủ” là 3 dân chủ lớn (dân chủ quân sự, chính trị, kinh tế).

Đối với công tác tổ chức xây dựng Đảng thì biên soạn “nguyên tắc tập trung dân chủ” trong sinh hoạt Đảng và hệ thống Đảng từ cơ sở lên các cấp. Công tác bảo vệ thì biên soạn các tài liệu phòng gian bảo mật. Đối với cấp ủy Đảng thì có tài liệu về 18 tiêu chuẩn bảo vệ chính trị nội bộ. Đối với công tác dân vận, địch vận thì phối hợp chặt chẽ với công tác binh vận Khu ủy, tổ chức xây dựng cơ sở trong lòng địch, mật giao, tuyên truyền cho binh sĩ địch hiểu chính sách của ta. “Súng Mỹ, lòng ta” là một khẩu hiệu có tác động tích cực trong công tác binh vận thời bấy giờ. Những người có thái độ trung dung dần dần được cảm hóa ngả theo cách mạng.

Những tài liệu do cán bộ cơ quan chính trị Quân khu biên soạn tuy lúc đầu còn sơ sài về mặt lý luận, nhưng mang tính thực tiễn, cụ thể đi vào những vấn để có tính chất thiết thực, phù hợp với trình độ năng lực nhận thức của bộ đội và cũng phù hợp với khả năng của người truyền đạt. Đây là đóng góp rất quan trọng của cơ quan chính trị Quân khu thời kỳ đầu tái thành lập lực lượng vũ trang để tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ và giành thắng lợi sau này.

Năm 1963, tình hình trên chiến trường Quân khu 2 và Quân khu 3 đã có bước phát triển mới. Đặc biệt là trận Ấp Bắc ngày 02/01/1963 của Tiểu đoàn 261. Chiến thắng Ấp Bắc làm nức lòng đồng bào, chiến sỹ 2 miền Nam - Bắc. Trung ương Cục phát động trên toàn miền phong trào “Thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công”. Nội dung thi đua là: “Đẩy mạnh hoạt động tác chiến của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Tiến công địch bằng 3 mũi giáp công, tiêu diệt nhiều địch, phá tan ấp chiến lược của Mỹ - Ngụy”.

Lực lượng vũ trang Quân khu 2 và Quân khu 3 đã phát triển lên một bước mới cả về số lượng và chất lượng. Quân khu 2 thành lập thêm Tiểu đoàn chủ lực 263. Ngày 23/9/1963, Quân khu 3 thành lập Trung đoàn bộ binh 1 gồm Tiểu đoàn 96 (T80) và Tiểu đoàn 29 (T70).

Ban chấp hành Trung ương Đảng quyết định thành lập Quân ủy Miền, thay Ban Quân sự Miền bằng Bộ chỉ huy Miền, thay các mật danh T2, T3 bằng Quân khu 8 và Quân khu 9.

Đối với Quân khu 8 lúc đầu cơ quan gọi là Ban chính trị được đổi thành Phòng chính trị; căn cứ của Phòng chính trị Quân khu 8 và các cơ quan Quân khu lúc này đóng ở huyện Hồng Ngự tỉnh Kiến Phong (nay là tỉnh Đồng Tháp). Đối với Phòng chính trị Quân khu 9, thời kỳ đầu ở huyện Trần Văn Thời, đầu 1965 được chuyển về huyện An Biên. Đây cũng là nơi đóng quân lâu nhất của Phòng chính trị Quân khu (1964 -1968).

Trong những năm 1964-1965, chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ - ngụy đứng trước nguy cơ phá sản. Mỹ chuyển qua chiến lược “chiến tranh cục bộ”. Đồng thời cũng là lúc lực lượng vũ trang Quân khu 8 và Quân khu 9 đã trải qua một giai đoạn xây dựng, củng cố và phát triển, nhiều đơn vị lập được thành tích xuất sắc. Đội ngũ cán bộ được đưa về Trường văn hoá Quân khu 8 để học tập, sau đó cử đi học ở các trường đào tạo của Miền.

Công tác xây dựng lực lượng vũ trang toàn diện được nâng lên, các mặt công tác khác được quan tâm đúng mức. Công tác bảo vệ đã tập trung xây dựng các kế hoạch bảo vệ căn cứ: từ công tác bố trí lực lượng, hiệp đồng chiến đấu, phòng gian bảo mật, các quy định ra vào cứ, kế hoạch bảo vệ các đồng chí lãnh đạo chỉ huy. Công tác Đoàn thanh niên, Phòng Chính trị đã đề xuất với Đảng ủy - Bộ Tư lệnh phát động phong trào “Kết nạp lớp đoàn viên mới”. Chỉ trong 6 tháng đầu năm 1965, ở Quân khu 9 đã kết nạp được hàng trăm thanh niên trở thành đoàn viên, hệ thống tổ chức Đoàn ở các đơn vị và cơ quan trong lực lượng vũ trang Quân khu được củng cố thêm một bước.

Công tác khen thưởng và kỷ luật cũng được hai Phòng Chính trị của hai Quân khu quan tâm đúng mức hơn so với trước đây. Bên cạnh khen thưởng, vấn đề kỷ luật vẫn được đề cao. Qua công tác kỷ luật đã làm cho đơn vị đi vào nề nếp, cán bộ chỉ huy nâng cao trách nhiệm chính trị trước đơn vị và trước nhiệm vụ được giao.

Đối với công tác chính sách, đặc biệt quan tâm đến công tác chôn cất liệt sĩ chu đáo, làm sơ đồ mộ chí, bia mộ, lưu giữ hiện vật, danh sách, để sau này báo tử cho gia đình. Đối với công tác thương binh, tổ chức các trại an dưỡng điều trị, giải quyết những thương binh nhẹ trở về đơn vị, các đồng chí thương binh nặng trở về địa phương, gia đình (kể cả các đồng chí phía Bắc) theo đúng chính sách của Đảng, Nhà nước. Về công tác bồi dưỡng nghiệp vụ cho cơ quan chính trị các cấp, nhất là cấp trung đoàn và tỉnh đội đã được Phòng chính trị Quân khu quan tâm.

Đóng góp to lớn của cơ quan chính trị Quân khu 8 và Quân khu 9 trong giai đoạn chiến đấu đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” là cùng với cấp ủy các cấp từ Khu ủy, Tỉnh ủy, Huyện ủy chấp hành thực hiện tốt các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương Đảng, Trung ương Cục miền Nam, Đảng ủy Bộ Tư lệnh Quân khu về công tác xây dựng phát triển lực lượng vũ trang cả chủ lực và bộ đội địa phương.

Thực tiễn của những năm tháng sau này còn phải trải qua nhiều gian khổ ác liệt, nhưng cơ quan chính trị 2 Quân khu cũng như hệ thống công tác Đảng, công tác chính trị đã được rèn luyện thử thách, sẵn sàng đáp ứng trong giai đoạn mới./.

Còn tiếp...

PHONG TRÚC lược ghi

Liên kết

Thống kê truy cập

Đang online: 1
Lượt truy cập hôm nay: 284
Trong tháng: 12.819
Tổng số lượt truy cập: 127.644