Chi tiết tin tức
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

80 năm vững bước dưới Quân kỳ Quyết thắng: Vai trò của công tác chính trị giai đoạn 1954 - 1959

- Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 mở ra một chương mới cho lịch sử dân tộc. Đằng sau niềm vui hòa bình thì miền Nam bước vào hình thái chiến tranh thực dân mới: Đế quốc Mỹ nhảy vào thay chân Pháp, dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm với âm mưu chia cắt lâu dài đất nước. Từ năm 1954 đến 1959, khi các đơn vị vũ trang tập kết ra Bắc, một câu hỏi lớn được đặt ra: Làm thế nào để giữ vững ngọn lửa cách mạng khi kẻ thù không tuân thủ nguyên tắc của Hiệp định? Câu trả lời nằm ở bản lĩnh và sự chuyển hướng tài tình của công tác chính trị.

     Sau tháng 7/1954, thực hiện Hiệp định, LLVT và phần lớn cán bộ cách mạng tập kết ra Bắc. Trên danh nghĩa, các Phân liên khu và cơ quan chính trị Quân khu không còn tồn tại. Tuy nhiên, nhiệm vụ cách mạng miền Nam không hề dừng lại. Ngày 06/9/1954, Bộ Chính trị ra chỉ thị nêu rõ: “Phải sắp xếp cán bộ, bố trí lực lượng, đảm bảo việc che giấu được lực lượng”.

Trên cơ sở đó, xứ ủy Nam bộ tái thành lập do đồng chí Lê Duẩn làm Bí thư. Dù cơ quan chính trị của Quân đội không hiện diện công khai, nhưng chức năng chỉ đạo tư tưởng, tổ chức và dân vận được chuyển giao sang các Liên Tỉnh ủy miền Trung và miền Tây Nam bộ. Hơn 30.000 cán bộ, đảng viên ở lại trở thành những “hạt nhân” chính trị trong lòng dân.

Trong khi đó, chính quyền Ngô Đình Diệm thi hành những chính sách tàn bạo nhất như Luật 10/59, lê máy chém đi khắp miền Nam, lập ra các “khu trù mật”, “ngũ gia liên bảo” nhằm quét sạch ảnh hưởng của cách mạng. Công tác chính trị lúc này tập trung vào việc xây dựng lòng tin tuyệt đối của Nhân dân vào Đảng và Bác Hồ. Cán bộ ta đã khéo léo lợi dụng tính hợp pháp của Hiệp định Giơ-ne-vơ để tuyên truyền, phát động quần chúng đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ.

Đến cuối năm 1958, khi kẻ thù đẩy sự tàn bạo lên đỉnh điểm với vụ thảm sát nhà tù Phú Lợi, nhu cầu được cầm súng trở nên bức thiết hơn bao giờ hết. Bản “Đề cương cách mạng miền Nam” của đồng chí Lê Duẩn đã định hình: “Nhân dân miền Nam chỉ có con đường là vùng lên chống lại Mỹ - Diệm để cứu nước và tự cứu mình. Ngoài con đường đó, không có con đường nào khác”.

Lúc này, vai trò của các cán bộ phụ trách quân sự và chính trị tại miền Tây, miền Trung Nam bộ càng trở nên then chốt. Họ nhanh chóng tổ chức các lớp tập huấn, xây dựng khung cán bộ cho các đơn vị vũ trang bí mật như Tiểu đoàn 5 (Kiến Phong), Tiểu đoàn 857 (Vĩnh Long). Điều đáng nói là, dù hoạt động bí mật, các đơn vị này vẫn duy trì nghiêm các nguyên tắc của Quân đội cách mạng, học tập 10 lời thề, 12 điều kỷ luật và 15 điều giữ bí mật. Đây chính là sự kế thừa trực tiếp chức năng của các cơ quan chính trị Quân đội trong điều kiện mới, đảm bảo phải có sự lãnh đạo của Đảng.

Nhìn lại giai đoạn 1954-1959, dù về mặt tổ chức, cơ quan chính trị Quân khu không hiện hữu công khai, nhưng nội hàm và giá trị của công tác chính trị vẫn là dòng chảy xuyên suốt. Nó chính là sợi dây liên kết giữa Đảng với dân, là “chất keo” gắn kết các lực lượng giáo phái và là “la bàn” định hướng cho những đơn vị vũ trang đầu tiên được tái lập. Công tác chính trị trong giai đoạn này đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh bảo tồn lực lượng, từ đó tạo nên bước ngoặt lịch sử, đưa cách mạng miền Nam sang thế tiến công, tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước./.

THANH HUY ( lược ghi)

Liên kết

Thống kê truy cập

Đang online: 1
Lượt truy cập hôm nay: 8
Trong tháng: 7.998
Tổng số lượt truy cập: 77.728