Kỳ 1: Cuộc gặp giữa hai thế hệ
Một buổi sáng tháng 4, khi nắng vàng trải trên nhánh kênh Nước Đục, xã Vĩnh Viễn, TP. Cần Thơ, đoàn chúng tôi rẽ vào con đường bê tông ghé thăm nhà Mẹ Việt Nam Anh hùng Cao Thị Lê. Nghe khách đến, mẹ lom khom ra cửa, rồi cho biết về ngôi mộ trước nhà: “Mộ của ông nhà tôi mới quy tập về năm ngoái. Ông ấy (Liệt sĩ Nguyễn Văn Thìn, sinh năm 1932) hy sinh tháng 2/1969. Ngoài mộ chồng, mẹ còn con trai thứ 3 (Liệt sĩ Nguyễn Văn Lẹ, sinh năm 1952) hy sinh năm 1974”.
Lời giới thiệu buổi đầu gặp mẹ, khiến chúng tôi lặng người. Ở tuổi 93, mẹ Lê vẫn còn rắn rỏi. Khi nhắc về gia đình, đôi mắt mẹ đỏ hoe. Mẹ kể, thời chiến tranh, gia đình nghèo lắm. Chồng tham gia kháng chiến ở Tiểu đoàn Tây Đô còn mẹ vừa hoạt động địa phương vừa nuôi con. “Khoảng năm 1965 - 1966, con trai thứ 4 mới bảy tuổi bị trúng đạn từ đồn địch ở chợ Vịnh Chèo bắn vào. Lúc đó tôi suy sụp, nhưng phải gượng dậy”, mẹ kể. Nỗi đau mất con chưa kịp nguôi thì tháng 2/1969, đơn vị báo tin chồng hy sinh. Giọng mẹ trầm xuống: “Lúc đó tôi tưởng không đứng dậy nổi. Nhưng rồi nghĩ phải trả thù cho chồng, con. Cùng năm đó tôi được giới thiệu vào lực lượng Quân báo Quân khu 9. Để an tâm công tác, tôi đưa 04 đứa con gửi nhà bà ngoại ở Bảy Ngàn ven kinh xáng Xà No”.
Những người con của mẹ Lê khi lớn lên tiếp tục tham gia kháng chiến. “Năm 1972, con trai thứ 3 (Nguyễn Văn Lẹ) xin theo tôi công tác và được tổ chức đồng ý. Vậy là hai mẹ con cùng công tác chung ở cơ quan Quân báo của Quân khu. Mới tham gia hơn một năm, thằng Ba hy sinh (Trung sĩ Nguyễn Văn Lẹ)”, giọng mẹ như nghẹn lại, nước mắt lăn dài trên hốc mắt in hằn những dấu chân chim. Sâu thẳm từ đáy lòng của mẹ là cả một cuộc đời gánh chịu những mất mát không gì bù đắp. Lau dòng nước mắt, mẹ Lê như lấy lại sự kiên cường “không được khóc” để tiếp tục hướng dẫn chúng tôi lần tìm thêm những ký ức về gia đình mẹ.
Tên khai sinh của mẹ là Cao Thị Ê. “Hồi đó, má tôi sanh 09 người con rồi cứ theo bảng chữ cái mà đặt tên. Sau này khi lấy chồng, chòm xóm gọi tôi là bà Chín Thìn (gọi theo tên chồng); khi tham gia cách mạng, tổ chức đặt cho bí danh Cao Thị Mỹ Dung, Cao Thị Lê. Sau này, bà con ở Vĩnh Viễn quen gọi tôi là Cô Dung, Cô Lê, ít ai biết tên cúng cơm là Ê”, mẹ kể. Trong 09 anh, chị, em của mẹ có 02 người hy sinh, đến năm 2014 mẹ ruột của mẹ Lê là Đoàn Thị Mân được Nhà nước truy tặng danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng. Từ đó, gia đình có hai thế hệ cùng mang danh hiệu cao quý. “Các con cháu trong gia đình tôi rất tự hào. Tôi thường nói chuyện với con, cháu về sự hy sinh của dòng tộc, gia đình để các cháu cố gắng trong xây dựng mái ấm gia đình và cống hiến, góp sức xây dựng quê hương”, mẹ tự hào.
Trong chiến tranh, Vĩnh Viễn là vùng căn cứ cách mạng kiên trung. Người dân vừa sản xuất, vừa chiến đấu, vừa nuôi giấu cán bộ. Những con rạch nhỏ trở thành tuyến vận tải bí mật, những ngôi nhà thành nơi che chở lực lượng cách mạng. Sau ngày đất nước thống nhất, vùng đất này bước vào hành trình mới, hàn gắn vết thương sau chiến tranh. Từ những cánh đồng hoang hóa vì bom đạn, hôm nay là những vườn cây trái trĩu quả, những cánh đồng lúa thẳng cánh cò bay. Đường bê tông nối dài đến từng xóm nhỏ, điện sáng về tận những bờ kênh. Chương trình xây dựng nông thôn mới đã làm thay đổi diện mạo vùng quê. Đời sống người dân ngày càng nâng cao.
Không chỉ phát triển kinh tế, Vĩnh Viễn còn giữ gìn truyền thống cách mạng. Công tác “đền ơn đáp nghĩa”, chăm lo gia đình chính sách luôn được quan tâm. Ông Võ Xuân Nghiêm, Cựu chiến binh ấp 2, xã Vĩnh Viễn cho biết: “Khu vực này ngày trước là nơi địch càn quét dữ dội vì hầu hết bà con đều tham gia cách mạng. Riêng ấp 2 có tới 14 Bà Mẹ Việt Nam anh hùng. Một ấp nhỏ, nhưng số lượng Mẹ nhiều đến vậy, điều đó nói lên mức độ ác liệt của chiến tranh ở mảnh đất này. Đồng thời, khắc họa tinh thần cách mạng của người dân Vĩnh Viễn”.
Rời Vĩnh Viễn, chúng tôi đi dọc theo con kênh Nước Đục ra chợ Vịnh Chèo hướng thẳng về thủ phủ Tây Đô. Nhưng ký ức vẫn còn đó trong câu chuyện của mẹ Lê. Vĩnh Viễn hôm nay không còn tiếng súng, nhưng mạch nguồn ký ức vẫn chảy./.


