Đầu những năm 1950, thực dân Pháp ráo riết thực hiện âm mưu “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”. Nhận thấy vị trí yết hầu của Chiến khu 8, địch dồn lực lượng hòng chia cắt Nam bộ, cô lập từng vùng để tiến tới lấn chiếm cả miền Đông và miền Tây.
Trong khi đó, về phía ta, thay vì tuân thủ phương châm “lấy chiến tranh du kích làm chính” của Trung ương để kềm chân địch, một bộ phận cán bộ chỉ huy lại nảy sinh tư tưởng “ăn to, đánh lớn”. Việc dồn sức cho các trận đánh quy mô lớn nhưng hiệu quả không cao, xem nhẹ việc xây dựng lực lượng địa phương đã khiến lực lượng cơ sở mỏng dần, dẫn đến tình trạng mất đất, mất dân.
Trước tình hình cấp bách, tháng 7/1951, Phân Liên khu miền Tây được thành lập, bao gồm 6 tỉnh: Bến Tre, Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Long Châu Hà. Sự chia tách, tổ chức lại chiến trường Nam bộ lúc này là một quyết sách nhạy bén, giúp mỗi khu vực tăng cường thế chủ động, độc lập trong tác chiến. Cùng với đó, LLVT được tổ chức lại thành ba thứ quân rõ rệt; các trung đoàn chủ lực được giải thể để bổ sung lực lượng xuống tận huyện, xã.
Sự xáo trộn lớn về mặt tổ chức ban đầu đã tạo ra những cú sốc tâm lý không nhỏ. Việc giải thể các đơn vị chủ lực đưa về địa phương làm nảy sinh tư tưởng công thần, địa vị, cục bộ địa phương, gây ảnh hưởng đến sức chiến đấu. Đúng vào thời điểm nhạy cảm này, Phòng Chính trị Phân Liên khu miền Tây ra đời. Dưới sự lãnh đạo của các thế hệ cán bộ như Phan Trọng Tuệ, Nguyễn Văn Vịnh, Dương Quốc Chính, Lê Đức Thọ, cùng các Trưởng phòng Diệp Tư, Hoàng Thế Thiện, cơ quan chính trị đã bước vào một “trận đánh” không tiếng súng nhưng vô cùng cam go: Trận đánh về tư tưởng.
Các đợt “chỉnh Đảng - chỉnh quân” được tiến hành liên tục và sâu rộng. Cán bộ Phòng Chính trị trực tiếp bám sát đơn vị cơ sở, kịp thời phát hiện và uốn nắn những sai lệch. Không chỉ thực hiện tốt công tác nội bộ, cán bộ chiến sĩ Phân liên khu miền Tây còn ghi dấu ấn đậm nét trong công tác dân vận. Ở các địa phương, khi phát hiện tình trạng chính quyền áp dụng chính sách “ngăn sông cấm chợ” một cách thô bạo, ép buộc Nhân dân thi hành những chủ trương không phù hợp, Phòng Chính trị đã thẳng thắn đề xuất bãi bỏ, góp phần ổn định tình hình. Đời sống tinh thần của Quân và Dân miền Tây cũng được vực dậy mạnh mẽ thông qua, các buổi chiếu phim lưu động (những thước phim quý giá được mang về từ miền Bắc, chiến khu Việt Bắc) và những bài ca cách mạng rộn rã trên các khóm ấp.
Cam go hơn là thời điểm Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết. Phải chấp nhận vĩ tuyến 17, giao lại miền Nam cho đối phương để tập kết ra Bắc. Lúc này, Phòng Chính trị đã làm việc với cường độ cao nhất, kiên trì giải thích cục diện, phân tích tương quan lực lượng, quán triệt sâu sắc tinh thần. Nhờ đó, cuộc chuyển quân tập kết đã diễn ra trong trật tự, kỷ luật. Trước khi lên tàu ra Bắc, bộ đội còn tranh thủ làm đường, bắc cầu, xây dựng trường học, để lại những hình ảnh đẹp không thể phai mờ trong lòng đồng bào miền Nam.
Tháng 4/1955, Phòng Chính trị Phân liên khu miền Tây chính thức giải thể. Dù chỉ tồn tại chưa đầy 4 năm (1951 - 1955), nhưng đơn vị đã hoàn thành xuất sắc vai trò lịch sử của mình góp phần vào việc giữ vững và phát triển phong trào kháng chiến tại ĐBSCL, để lại những bài học quý về CTĐ, CTCT cho các giai đoạn lịch sử sau này./.


