
Trong văn hóa phương Đông, ngựa là biểu tượng của sức mạnh và ý chí quật cường. Ở Việt Nam xưa, hình tượng ngựa còn là “thước đo” nghệ thuật trị nước và thuật dùng người. Từ huyền thoại đến sử sách, ngựa xuất hiện gần gũi với nhiều tầng nghĩa, nhiều sắc thái, phản ánh chiều sâu tư duy và thế giới quan của người Việt qua các thời kỳ lịch sử. Điều này thể hiện rõ nhất qua hai câu thơ của Phật hoàng Trần Nhân Tông sau chiến thắng quân Nguyên - Mông: “Xã tắc hai phen chồn ngựa đá/Non sông nghìn thuở vững âu vàng”. Qua hình ảnh “ngựa đá” cũng phải mỏi mệt vì chiến chinh, vị vua anh minh đã gửi gắm một tư tưởng lớn: Vận mệnh quốc gia chỉ vững bền khi người cầm quyền biết đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, biết quý trọng hòa bình để “buông cương” cho dân nghỉ sức nhưng cũng sẵn sàng khí thế tiến công khi đất nước cần.
Trong “Hịch tướng sĩ” của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, hình ảnh ngựa gắn liền với sự trung thành, dũng mãnh, xông pha trận mạc và cũng là biểu tượng cho vinh quang, danh dự dân tộc, được dùng để khích lệ tướng sĩ, nhắc nhớ về nghĩa vụ, lòng căm thù giặc, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ Tổ quốc: “Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ/ Nghìn xác này gói trong da ngựa/ Ta cũng cam lòng”. Những lời đanh thép về nợ nước, thù nhà không chỉ để thức tỉnh tướng sĩ, mà còn gửi gắm một thông điệp sâu xa: Chiến mã chỉ xứng đáng tung vó khi người cầm cương biết vì xã tắc, vì muôn dân. Nếu kẻ làm tướng chỉ nghĩ đến bổng lộc, an thân, thì dù có “ngựa hay, giáo sắc” cũng không thể giữ được non sông.
.jpg)
Thời Vua Quang Trung, hình ảnh chiến mã Tây Sơn trở thành biểu tượng rực rỡ của trí tuệ quân sự và bản lĩnh lãnh đạo. Cuộc hành quân thần tốc từ Phú Xuân ra Thăng Long vào năm Kỷ Dậu 1789 không chỉ là chiến thắng của vó ngựa, mà là chiến thắng của tầm nhìn chiến lược, quyết đoán và lòng dân. Ngựa có thể phi nhanh nhưng chỉ khi người cầm cương biết chọn đường ngắn nhất, đúng thời khắc nhất, mới tạo nên kỳ tích. Đó là bài học lớn cho mọi thời đại: Tốc độ phải đi cùng trí tuệ; sức mạnh phải được đặt trong kỷ luật và mục tiêu chung.
Vượt ra khỏi sử sách, hình tượng ngựa trong ca dao, tục ngữ, thành ngữ chính là nơi lắng đọng triết lý nhân sinh của người Việt. Tính gắn kết ấy còn được nâng tầm thành tinh thần trách nhiệm trong câu “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”, đó là biểu tượng của sự đoàn kết và nghĩa đồng bào. Đặc biệt, lời nhắc nhớ “Ngựa non háu đá” là lời cảnh tỉnh sâu sắc dành cho những người trẻ chưa có kinh nghiệm nhưng vẫn vội vàng, hấp tấp thì ắt sẽ dẫn đến thất bại. Nhiệt huyết của tuổi trẻ là vốn quý nhưng nếu thiếu đi sự rèn luyện, thử thách và kiểm soát quyền lực, sức mạnh ấy dễ trở thành sự nông nổi, lạc đường.
Trong thời đại Hồ Chí Minh, hình tượng ngựa không còn mang dáng dấp uy nghi của chiến bào, gươm giáo, mà trở thành người bạn đồng hành giản dị cùng Người băng suối, vượt đèo nơi Chiến khu Việt Bắc. Hình ảnh Bác Hồ trên yên ngựa giữa rừng núi điệp trùng là minh chứng sống động cho chân lý: Người lãnh đạo chân chính không đứng trên cao để chỉ huy mà luôn đi xuống cơ sở, đến với bà con. Yên ngựa của Bác không gấm vóc, không cờ lọng, chỉ có hành trang cách mạng và một tấm lòng nồng nàn yêu nước. Chính từ những chuyến đi thực tiễn ấy, mọi quyết sách của Người đều kết tinh từ hơi thở, nguyện vọng của Nhân dân. Lời dạy: “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh” chính là “nguyên tắc cầm cương” mẫu mực. Người không dùng roi để thúc ngựa, mà dùng niềm tin để dẫn dắt; không ép quần chúng chạy theo mình, mà tự mình đi trước, làm trước để dân tin tưởng bước theo.

Trong bối cảnh mới, “người cầm cương” không chỉ cần bản lĩnh chính trị vững vàng mà phải hội tụ đủ cả “Tâm - Tầm - Tài”. Đó phải là những cán bộ vừa kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng, nhạy bén với những bước tiến của khoa học - công nghệ. Bản lĩnh của người lãnh đạo hôm nay thể hiện ở sự cân bằng, dám bứt phá khi thời cơ chín muồi nhưng cũng đủ tỉnh táo để “ghìm cương” giữ vững kỷ cương, nguyên tắc. Giữa dòng chảy thời đại đầy biến động, người cầm lái con thuyền quốc gia cũng giống như người cầm cương trên lưng ngựa phải biết lúc nào cần thúc vó tăng tốc để bắt kịp thế giới, lúc nào cần giữ nhịp ổn định để phát triển bền vững. Đó chính là nghệ thuật quản trị quốc gia trong vận hội mới.
Nhìn lại năm 2025, việc sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh gọn hệ thống chính trị, đổi mới mô hình chính quyền địa phương đã tạo ra những chuyển động lớn, tác động trực tiếp đến tư duy quản lý, phương thức điều hành và tâm thế đội ngũ cán bộ. Thực tiễn cho thấy, ở đâu người đứng đầu bản lĩnh, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, ở đó công việc thông suốt, Nhân dân đồng thuận; ngược lại, nơi nào cán bộ thiếu năng lực, né tránh trách nhiệm, thì chủ trương đúng cũng khó đi vào cuộc sống. Xuân Bính Ngọ đang về. Đây là thời điểm đòi hỏi đội ngũ lãnh đạo, những “người cầm cương” của thời đại mới phải thể hiện bản lĩnh: Tay vững, tâm sáng, chí kiên. Khi sức mạnh dân tộc được đặt đúng hướng dưới sự dẫn dắt sáng suốt, không một dốc cao nào có thể cản bước. Thành công của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, cả dân tộc đang đặt trọn niềm tin vào những người cầm chắc dây cương để đưa đất nước tiếp tục hành trình “đi nhanh, đi xa, và bền vững”. Một chương mới của lịch sử đang mở ra, tự tin và rạng rỡ như tâm nguyện “sánh vai với các cường quốc năm châu” mà Bác Hồ hằng mong./.


