Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, quân đội Mỹ không chỉ sử dụng bom đạn mà còn tiến hành chiến tranh hóa học với quy mô lớn chưa từng có. Từ năm 1961 đến năm 1971, quân đội Mỹ đã thực hiện 19.905 phi vụ phun rải khoảng 80 triệu lít chất độc hóa học xuống miền Nam Việt Nam. Trong đó, hơn 61% là chất da cam chứa Dioxin. Gần 26.000 thôn, bản bị ảnh hưởng; hơn 3 triệu héc ta đất đai, rừng cây và hệ sinh thái bị tác động nặng nề. Chiến tranh đã lùi xa, nhưng những ký ức đau thương về chất độc hóa học vẫn chưa bao giờ phai nhạt. Đó là cuộc chiến tranh hóa học có quy mô lớn nhất trong lịch sử, gây nên thảm họa môi trường chưa từng có, để lại những hậu quả nặng nề cho Nhân dân Việt Nam đến ngày nay.

Là vùng căn cứ cách mạng quan trọng ở cực Nam Tổ quốc, giai đoạn 1966-1970, rừng ngập mặn ở Cà Mau đã bị rải 669.548 ga-lông chất độc da cam/dioxin (tương đương trên 2.530.891 lít). Những cánh rừng đước Năm Căn, Ngọc Hiển và một phần rừng U Minh từng là “lá chắn xanh” của cách mạng bị chất độc hóa học tàn phá nặng nề. 74.000 héc ta rừng Cà Mau với trên 19.978.867m3 gỗ bị tiêu diệt bởi chất độc, nhiều hệ sinh thái bị phá vỡ, nguồn nước, đất đai và môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng. Nơi sự sống từng hiện hữu chỉ còn màu xám của cây chết và bùn đất bị đầu độc. Đó là nỗi đau không chỉ của thiên nhiên mà còn của con người. Điều đau xót hơn cả là hậu quả của chiến tranh hóa học không dừng lại khi chiến tranh kết thúc. Dioxin tiếp tục âm thầm tồn tại trong môi trường, đi vào đất, nguồn nước, chuỗi thức ăn rồi lặng lẽ tác động lên cơ thể con người qua nhiều thế hệ.
Đại tá Phạm Công Hữu, Phó Chính ủy Binh chủng Hóa học cho biết: “Những hậu quả nặng nề của chiến tranh hóa học đã để lại nỗi đau vô cùng cho hàng vạn gia đình ở Việt Nam. Hơn 60 năm qua, những nỗ lực của các cấp, các ngành trong công tác khắc phục hậu quả chất độc da cam và chăm lo cho nạn nhân đã góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng, phát huy truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” và kêu gọi sự chung tay của toàn xã hội trong hành trình xoa dịu nỗi đau da cam”. Biết bao cán bộ, chiến sĩ và người dân Cà Mau từng bám rừng, bám đất chiến đấu đã mang trong mình những căn bệnh hiểm nghèo. Nhiều người ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ. Không ít gia đình tiếp tục gánh chịu nỗi đau khi con, cháu sinh ra mang dị tật bẩm sinh, chậm phát triển hoặc mắc nhiều căn bệnh hiểm nghèo. Có những mái nhà, nỗi đau da cam nối tiếp từ thế hệ cha sang con, rồi đến cháu như một vết thương chưa bao giờ lành hẳn.
.jpg)
Bà Võ Thị Hồng Thoại, Chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin tỉnh Cà Mau cho biết: “Hiện toàn tỉnh có trên 20.000 hội viên Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin; trong đó, 6.763 nạn nhân đang được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước, gồm 3.771 người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học và 2.654 trường hợp là con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam”. Không chỉ Việt Nam, nhiều nhà khoa học, tổ chức nhân đạo và phong trào hòa bình trên thế giới đã lên tiếng về hậu quả nghiêm trọng của chiến tranh hóa học. Các nghiên cứu khoa học đều khẳng định Dioxin là chất độc có khả năng gây tổn thương lâu dài đối với sức khỏe con người và môi trường. Cuộc đấu tranh đòi công lý cho các nạn nhân chất độc da cam Việt Nam vì thế không chỉ mang ý nghĩa pháp lý mà còn là tiếng nói của lương tri nhân loại trước những hậu quả mà chiến tranh để lại.
“Đầu tháng 6/2026, Binh chủng Hóa học phối hợp với Bộ Tư lệnh Quân khu 9, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Cà Mau cùng Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin tỉnh tổ chức triển lãm chuyên đề “Hồi sinh những vùng đất chết”. Triển lãm không chỉ tái hiện hậu quả khốc liệt của chiến tranh hóa học mà còn giới thiệu những thành tựu nổi bật trong khắc phục hậu quả chất độc da cam, xử lý ô nhiễm môi trường và chăm lo cho các nạn nhân. Thông qua triển lãm, thông điệp về trách nhiệm gìn giữ hòa bình, bảo vệ môi trường sống và ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh hóa học tiếp tục được lan tỏa mạnh mẽ”, Thượng tá Hà Thị Thoan, Giám đốc Bảo tàng Hóa học cho biết.
Theo Trung ương Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam, có khoảng 4,8 triệu người Việt Nam từng bị phơi nhiễm, ước tính có tới 3 triệu người Việt Nam bị ảnh hưởng về sức khỏe do phơi nhiễm chất độc hóa học/dioxin, trong đó, ít nhất có 150.000 trẻ em bị khuyết tật bẩm sinh và ít nhất 1 triệu người đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng từ chất độc da cam.
Ngày nay, mỗi khi nhắc đến chất độc da cam, cộng đồng quốc tế không chỉ nhắc đến Việt Nam như một quốc gia chịu hậu quả nặng nề, mà còn nhắc đến tinh thần kiên cường vượt lên nghịch cảnh của một dân tộc luôn hướng về hòa bình, hòa giải và phát triển. Ở Việt Nam, Đảng, Nhà nước, Quân đội cùng các cấp, các ngành luôn dành sự quan tâm đặc biệt đối với công tác khắc phục hậu quả chất độc hóa học. Từ việc xử lý các điểm nóng ô nhiễm dioxin, chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, hỗ trợ sinh kế, xây dựng nhà tình nghĩa, đến các hoạt động nhân đạo vì nạn nhân chất độc da cam... tất cả đều thể hiện trách nhiệm và truyền thống nhân văn của dân tộc. Hành trình từ thảm họa da cam chết chóc đến màu xanh của sự sống không chỉ là sự hồi sinh kỳ diệu của thiên nhiên mà còn là minh chứng cho ý chí, nghị lực và khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam.
Tại Cà Mau, nhiều năm qua, cấp ủy, chính quyền địa phương, lực lượng vũ trang, Hội Nạn nhân chất độc da cam, các doanh nghiệp và những tấm lòng hảo tâm đã chung tay chăm lo đời sống các gia đình bị ảnh hưởng. Những phần quà, căn nhà, chiếc xe lăn hay những suất học bổng tuy không thể xóa hết nỗi đau nhưng đã tiếp thêm nghị lực để các gia đình vươn lên trong cuộc sống. Nếu chiến tranh từng để lại những cánh rừng chết thì hòa bình đã mang màu xanh trở lại. Sau hơn nửa thế kỷ, thiên nhiên Cà Mau hồi sinh mạnh mẽ. Những cánh rừng đước vươn mình chắn sóng, giữ đất, mở rộng bãi bồi ra biển. Những cánh rừng tràm U Minh Hạ tiếp tục là mái nhà của hàng trăm loài động, thực vật quý hiếm. Nơi từng là vùng đất bị đầu độc nay trở thành tài sản sinh thái quý giá không chỉ của Việt Nam mà còn của thế giới.

Năm 2009, UNESCO công nhận Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Mũi Cà Mau với diện tích hơn 371.000 héc ta. Đây là khu vực hội tụ các hệ sinh thái rừng ngập mặn, rừng tràm trên đất than bùn và vùng biển ven bờ đặc sắc, có giá trị nổi bật về đa dạng sinh học và phát triển bền vững. Năm 2013, Vườn quốc gia Mũi Cà Mau được Ban Thư ký Công ước Ramsar công nhận là Khu Ramsar của thế giới. Việc được ghi danh đồng nghĩa với việc khu vực này được cộng đồng quốc tế thừa nhận có giá trị đặc biệt về sinh thái, đa dạng sinh học và bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên. Những danh hiệu ấy không đơn thuần là sự ghi nhận về giá trị thiên nhiên. Đó còn là minh chứng sinh động cho sức sống mãnh liệt của vùng đất từng bị chiến tranh hủy hoại. Từ những cánh rừng từng bị chất độc hóa học làm trơ trụi, Cà Mau hôm nay đã trở thành “lá phổi xanh” của Đồng bằng sông Cửu Long, là nơi lưu giữ nhiều hệ sinh thái độc đáo mang tầm vóc quốc tế.
Có lẽ, không có hình ảnh nào nói lên khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam rõ hơn chính màu xanh đang phủ kín những cánh rừng nơi địa đầu cực Nam Tổ quốc. Màu xanh ấy được vun đắp từ máu xương của các thế hệ đi trước, từ sự hy sinh của biết bao cán bộ, chiến sĩ và Nhân dân, từ nghị lực vượt qua nỗi đau da cam, từ quyết tâm gìn giữ thiên nhiên và xây dựng đất nước. Chiến tranh luôn để lại mất mát. Đặc biệt, chiến tranh hóa học không chỉ cướp đi sinh mạng con người mà còn đầu độc cả môi trường và tương lai của nhiều thế hệ. Lịch sử càng nhắc nhở nhân loại rằng không có bất kỳ mục tiêu quân sự nào có thể biện minh cho việc sử dụng vũ khí hóa học đối với con người và thiên nhiên.
Từ vùng đất từng phơi nhiễm dioxin đến Khu Ramsar và Khu Dự trữ sinh quyển thế giới, Cà Mau đã viết nên câu chuyện kỳ diệu về sự hồi sinh. Đó không chỉ là chiến thắng của thiên nhiên trước sự tàn phá của chiến tranh, mà còn là chiến thắng của lòng nhân ái, của ý chí Việt Nam và của khát vọng hòa bình. Màu xanh hôm nay không chỉ che chở Đất Mũi, mà còn gửi đến thế giới một thông điệp giản dị nhưng sâu sắc: hòa bình luôn là con đường duy nhất để con người và thiên nhiên cùng phát triển bền vững./.


