
Trong bài viết “Phát triển KTTN - đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng”, Tổng Bí thư Tô Lâm đã đưa ra những nhận định sâu sắc, khẳng định KTTN là động lực quan trọng nhất cho tăng trưởng. Đây không chỉ là một bước đột phá về tư duy kinh tế mà còn là sự kế thừa khoa học, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Thực tiễn trên 40 năm Đổi mới đã chứng minh con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta lựa chọn là hoàn toàn đúng đắn. Trong đó, việc xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng XHCN là một đột phá lý luận mang tính tầm vóc, một sáng tạo vĩ đại của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thế nhưng, trước những thành tựu to lớn không thể phủ nhận đó, các thế lực thù địch, phản động và những phần tử cơ hội chính trị chưa bao giờ từ bỏ dã tâm chống phá. Bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, chúng tung ra các luận điệu sai trái nhằm làm suy giảm niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Một trong những luận điệu thâm độc và dai dẳng nhất chính là cái gọi là nền kinh tế Việt Nam hiện nay đang ở trạng thái “đỏ vỏ, xanh lòng”.
Thuật ngữ “đỏ vỏ, xanh lòng” là một sự ví von đầy xảo trá nhằm ám chỉ sự mâu thuẫn, đối lập giữa hình thức và bản chất của chế độ ta. “Đỏ vỏ” được chúng gán ghép là hình thức chính trị bên ngoài, tức là bề ngoài vẫn tuyên bố đi theo con đường CNXH, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong khi đó, “xanh lòng” lại bị chúng gán ghép cho thực chất bên trong của nền kinh tế, ám chỉ rằng lõi kinh tế của Việt Nam đang vận hành và phát triển theo con đường của chủ nghĩa tư bản (CNTB), kinh tế phương Tây, thị trường tự do TBCN.
Bối cảnh để chúng tung ra và khuếch đại luận điệu này chính là khi Đảng ta chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó đặc biệt chú trọng khuyến khích và tạo điều kiện cho KTTN phát triển, coi KTTN là “một động lực quan trọng” của nền kinh tế. Chúng lập luận một cách ngụy biện rằng: Việc Việt Nam chấp nhận tư hữu, khuyến khích làm giàu cá nhân, thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và vận hành theo các quy luật của KTTT chính là bằng chứng không thể chối cãi cho việc Việt Nam đã từ bỏ mục tiêu XHCN. Từ đó, chúng đi đến kết luận hết sức phản động: Bản chất của Việt Nam là TBCN dưới nhãn mác cộng sản; từ đó, kích động đòi hỏi “đa nguyên kinh tế” tất yếu dẫn tới “đa nguyên chính trị”; phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội. Các trang tin thiếu thiện chí như RFA, VOA, Việt Tân, BBC hay những đối tượng phản động như Nguyễn Văn Đài, Lê Trung Khoa… đã đăng tải những bài viết có tính chất suy diễn, bịa đặt. Họ cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương phát triển KTTN là đang “phá bỏ thành trì của chủ nghĩa cộng sản”...
Thực chất, đây là những âm mưu thâm độc hòng gây hoang mang dư luận, làm giảm niềm tin của Nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng. Những kẻ này cố tình xuyên tạc rằng Việt Nam đang “giảm nhẹ yếu tố CNXH để tăng yếu tố TBCN”. Tìm mọi cách tác động nhằm chuyển hóa hệ thống pháp luật kinh tế, đẩy nhanh quá trình tư nhân hóa nền kinh tế. Chúng sử dụng “mồi nhử” viện trợ, cho vay, đầu tư nước ngoài... kèm theo điều kiện chính trị, gắn với những đòi hỏi về cải thiện dân chủ, nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ ta. Chúng hạ thấp, phủ nhận vị trí, vai trò của sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể và thành phần kinh tế nhà nước cùng kinh tế tập thể; khuyến khích cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước theo hướng tư nhân hóa; hỗ trợ phát triển sở hữu tư nhân và khu vực KTTN, tạo môi trường kinh tế có lợi cho CNTB. Chúng còn thông qua các chương trình đào tạo, huấn luyện để mua chuộc, lôi kéo, làm tha hóa đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế trong bộ máy Nhà nước ta.
Tuy nhiên, thực tế lịch sử và lý luận của Đảng ta đã chứng minh điều ngược lại: Vai trò, vị thế của KTTN ở nước ta đã được nâng lên, coi đó là động lực của nền kinh tế. Đảng, Nhà nước tiếp tục hoàn thiện về thể chế, nhất là chỉ đạo tổ chức thực tiễn để thực hiện đúng đường lối, chính sách, phát huy hơn nữa tiềm năng của KTTN. Đầu tư cho KTTN phát triển không phải là mục tiêu đạt tới, mà là phương tiện để phát triển kinh tế - xã hội và con người, góp phần xây dựng thành công CNXH ở Việt Nam.
Tính tất yếu khách quan của KTTN trong thời kỳ quá độ
Sự hiện diện và phát triển của KTTN trong thời kỳ quá độ lên CNXH không phải là một sự “nhượng bộ” hay “chệch hướng” TBCN như các thế lực thù địch rêu rao, mà đó là sự vận dụng sáng tạo, tuân thủ các quy luật khách quan của sự phát triển lịch sử - tự nhiên của hình thái kinh tế - xã hội. Đây cũng là sự lựa chọn tự giác con đường và mô hình phát triển trên cơ sở lý luận Mác – Lênin, nắm bắt đúng quy luật khách quan và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Thứ nhất, từ di sản lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin. C.Mác và Ph.Ăng-ghen khi nghiên cứu về phương thức sản xuất TBCN đã không hề phủ nhận vai trò to lớn của tư hữu trong việc giải phóng lực lượng sản xuất. C.Mác từng viết trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản: “Giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại”[1].
Tuy nhiên, bước tiến vĩ đại về tư duy sử dụng KTTN trong thời kỳ quá độ phải kể đến V.I.Lênin. Nhìn thẳng vào thực tiễn tàn phá của nội chiến và sự kiệt quệ của nước Nga Xô Viết, Lênin đã thẳng thắn từ bỏ “Chính sách cộng sản thời chiến” để chuyển sang “Chính sách kinh tế mới” (NEP). Bản chất của NEP chính là sự thừa nhận KTTT, thừa nhận lợi ích cá nhân và sử dụng KTTN, CNTB nhà nước làm những “chiếc cầu nhỏ vững chắc” để tiến lên CNXH. Lênin chỉ rõ, không thể tiến lên CNXH bằng cách trực tiếp dựa vào nhiệt tình cách mạng, mà phải bằng sự khuyến khích lợi ích cá nhân, bằng chế độ hạch toán kinh tế. Việc sử dụng KTTN dưới sự kiểm soát của nhà nước vô sản là bước đi hoàn toàn mang tính biện chứng nhằm xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho CNXH ở một nước tiểu nông.
Thứ hai, từ tư tưởng Hồ Chí Minh về “Công tư đều lợi”. Ngay từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức sâu sắc vai trò của giới công thương và các thành phần kinh tế. Người nhấn mạnh nguyên tắc: “Công tư đều lợi. Kinh tế quốc doanh là công. Nó là nền tảng và sức lãnh đạo của kinh tế dân chủ mới... Tư là những nhà tư bản dân tộc và kinh tế cá nhân của nông dân và thủ công nghệ. Đó cũng là lực lượng cần thiết cho công cuộc xây dựng kinh tế nước nhà”[2]. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, Người đã gặp gỡ giới doanh nhân, gọi họ là “các nhà tư bản Việt Nam” và khẳng định: “Trong lúc các giới khác trong quốc dân ra sức hoạt động để giành lấy nền hoàn toàn độc lập của nước nhà, thì giới Công - Thương phải hoạt động để xây dựng một nền kinh tế, tài chính vững vàng và thịnh vượng. Chính phủ, Nhân dân và tôi sẽ tận tâm giúp đỡ giới thương nhân trong công cuộc kiến thiết này. Việc nước và việc nhà bao giờ cũng đi đôi với nhau. Nền kinh tế quốc dân thịnh vượng nghĩa là sự kinh doanh của các nhà doanh nghiệp thịnh vượng”[3]. Tư tưởng này cho thấy, lợi ích của khu vực tư nhân hoàn toàn có thể song hành và đóng góp vào lợi ích quốc gia, dân tộc dưới một chế độ dân chủ mới.
Thứ ba, sự phát triển liên tục trong nhận thức của Đảng ta về KTTN. Trải qua quá trình đổi mới, tư duy của Đảng về KTTN đã có những bước tiến vượt bậc, từ chỗ thừa nhận, cho phép hoạt động, đến chỗ khuyến khích và coi đây là một động lực quan trọng.
Đại hội VI (1986) đánh dấu bước ngoặt lịch sử khi Đảng ta dũng cảm nhìn nhận sai lầm trong việc nóng vội xóa bỏ các thành phần kinh tế phi XHCN, từ đó khẳng định chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài. Đến Đại hội X (2006), Đảng chính thức đánh giá “KTTN là một trong những động lực của nền kinh tế”. Nghị quyết Trung ương 5 Khóa XII (Nghị quyết 10-NQ/TW năm 2017) tiếp tục nâng tầm nhận thức: “KTTN là một động lực quan trọng để phát triển kinh tế. Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cùng với KTTN là nòng cốt để phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ”.
Nhìn lại trước thềm Đại hội XIV của Đảng, Đảng ta ban hành bốn Nghị quyết đột phá là “Bộ tứ trụ cột” đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới: Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về “Hội nhập quốc tế trong tình hình mới”; Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển KTTN. Với việc xác lập bốn nghị quyết mới, đó là lộ trình để Việt Nam thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình.
Đặc biệt, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (năm 2026), trước yêu cầu bứt phá để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình, hoàn thành mục tiêu trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030, Đảng ta tiếp tục khẳng định mạnh mẽ và bổ sung những nhận thức mới về KTTN. Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh: “Phát triển kinh tế nhà nước thực sự giữ vai trò chủ đạo, phát triển KTTN là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế”[4]. Khi tư duy đã mở, công nghệ đã sẵn sàng, pháp luật đã thông thoáng và nội lực tư nhân được giải phóng, con tàu Việt Nam chắc chắn sẽ cập bến vinh quang vào năm 2045.
Như vậy, việc phát triển KTTN ở Việt Nam không phải là sự “buông xuôi” cho CNTB, mà là một chiến lược có ý thức, có lý luận dẫn đường, nhằm giải phóng triệt để mọi nguồn lực xã hội, phục vụ cho mục tiêu tối thượng là xây dựng CNXH. Sự đối lập giả tạo giữa “đỏ” và “xanh” mà các thế lực thù địch vẽ ra hoàn toàn sụp đổ trước lăng kính triết học Mác-xít. Bản chất nền kinh tế của chúng ta là sự thống nhất biện chứng: Lấy cơ chế thị trường làm phương tiện để huy động nguồn lực và phân bổ hiệu quả, nhưng định hướng và mục đích cuối cùng là do bản chất XHCN quy định nhằm bảo đảm công bằng, tiến bộ xã hội.
Sức sản xuất được giải phóng và đóng góp to lớn của khu vực KTTN
Những thành tựu kinh tế mà Việt Nam đạt được không đến từ những khẩu hiệu suông, mà đến từ việc áp dụng đúng đắn cơ chế KTTT, trong đó KTTN đã phát huy vai trò vô cùng to lớn. Tính đến đầu năm 2025, khu vực KTTN đóng góp khoảng 51% GDP, chiếm hơn 30% tổng thu ngân sách Nhà nước. Đặc biệt, KTTN đang thể hiện vai trò dẫn dắt rõ nét trong mở rộng quy mô sản xuất và dịch vụ khi chiếm gần 60% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Đáng chú ý, tốc độ tăng trưởng bình quân của khu vực này luôn duy trì ở mức cao hơn so với mặt bằng chung của toàn nền kinh tế, trở thành đầu tàu kéo theo sự phát triển chung. Không chỉ đóng góp về mặt tài chính, KTTN còn là “xương sống” trong việc đảm bảo an sinh xã hội. Với việc sử dụng hơn 82% tổng số lao động trong nền kinh tế, khu vực này đang tạo ra sinh kế bền vững cho hơn 40 triệu người dân, góp phần quan trọng vào sự ổn định và phát triển nguồn nhân lực quốc gia. Dựa trên nền tảng hiện có, mục tiêu phát triển trong tương lai đã được xác định rõ ràng qua hai giai đoạn then chốt: Đến năm 2030: Phấn đấu nâng mức đóng góp lên khoảng 55 - 58% GDP; đồng thời, chú trọng cải thiện năng suất lao động bình quân để tăng cường sức cạnh tranh. Đến năm 2045, khu vực KTTN sẽ trở thành động lực vững chắc, chủ động tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu với mục tiêu đạt ít nhất 3 triệu doanh nghiệp hoạt động hiệu quả. Với những chính sách hỗ trợ kịp thời và đúng đắn, KTTN kỳ vọng sẽ tiếp tục bứt phá, hiện thực hóa khát vọng về một Việt Nam cường thịnh.
.jpg)
KTTN là động lực vững chắc giải quyết việc làm và an sinh xã hội. Khu vực KTTN hiện đang thu hút và giải quyết việc làm cho hơn 80% lực lượng lao động của nền kinh tế. Với quy mô linh hoạt từ hộ kinh doanh cá thể đến doanh nghiệp vừa và nhỏ, KTTN đã len lỏi vào từng ngõ ngách của đời sống, từ thành thị đến vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Nhờ đó, thu nhập của người lao động không ngừng được cải thiện, góp phần quan trọng vào công cuộc xóa đói giảm nghèo.
KTTN từng bước là nòng cốt xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và những biến động địa chính trị phức tạp, sự phụ thuộc quá lớn vào dòng vốn FDI mang lại nhiều rủi ro về an ninh kinh tế. KTTN trong nước đang dần trưởng thành và lấp đầy khoảng trống này. Tỷ trọng đầu tư của khu vực tư nhân trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội đã tăng từ 44,6% (năm 2010) lên 59,5% (năm 2021). Hàng loạt công trình hạ tầng trọng điểm quốc gia như sân bay, đường cao tốc, cảng biển quy mô lớn đã và đang được thực hiện bởi các tập đoàn tư nhân Việt Nam với tốc độ và chất lượng vượt trội. KTTN cũng làm chủ nhiều lĩnh vực sản xuất thiết yếu như chiếm tới 91,27% sản lượng muối biển, gần 45% sản lượng xi măng, gần 50% sản lượng thép. Điều này chứng minh tiềm lực nội sinh của dân tộc đang được khơi dậy mạnh mẽ.
Phát triển KTTN chính là biểu hiện rực rỡ nhất của dân chủ về kinh tế. Mọi người dân đều có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề pháp luật không cấm, được Nhà nước bảo hộ quyền tài sản hợp pháp. “Dân chủ là mục tiêu và động lực của công cuộc đổi mới” và việc hàng chục vạn doanh nghiệp tư nhân ra đời mỗi năm minh chứng cho việc người dân tin tưởng vào thể chế, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Không có một nền kinh tế “TBCN trá hình” nào lại đặt mục tiêu phát triển vì con người, lấy con người làm trung tâm, không để ai bị bỏ lại phía sau như mô hình KTTT định hướng XHCN mà Việt Nam đang xây dựng.
Nhìn thẳng vào hạn chế để kiên định định hướng XHCN
Trong tiến trình phát triển, chúng ta không tô hồng thực tiễn, KTTN ở Việt Nam phát triển nhanh nhưng chưa thực sự bền vững và bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém mà Đảng, Nhà nước đang quyết liệt chấn chỉnh. Thực trạng cho thấy, nhận thức của hệ thống chính trị đối với KTTN mặc dù có sự thay đổi, song vẫn còn có sự kỳ thị, phân biệt đối xử, nhất là một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức, thậm chí là người dân đối với khu vực KTTN. Thiếu sự thống nhất và vẫn còn nhận thức chưa đúng về vai trò của KTTN trong nền KTTT định hướng XHCN. Khung pháp luật, cơ chế, chính sách vẫn còn nhiều bất cập, chồng chéo và thiếu đồng bộ, chưa thực sự tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của các chủ thể kinh tế, đặc biệt là chủ thể thuộc khu vực tư nhân. Chính sách cạnh tranh chưa hiệu quả, còn có sự không bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực giữa các thành phần kinh tế, sự khác biệt trong quá trình thực thi chính sách. Chính sách bảo vệ sản xuất trong nước, chống buôn lậu và gian lận thương mại chưa phù hợp và còn nhiều hạn chế. Quản lý Nhà nước còn nhiều bất cập, đặc biệt là trong triển khai các quy định, chính sách với hiệu lực, hiệu quả thấp, chưa có nhiều cơ chế, chính sách khuyến khích các doanh nghiệp khu vực tư nhân đổi mới sáng tạo, tạo ra sản phẩm cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Cải cách hành chính chưa đạt mục tiêu 3 giảm (giảm thời gian, giảm chi phí, giảm giấy tờ). Thủ tục còn rườm rà, trùng lắp, chồng chéo ở nhiều khâu. Hoạt động hỗ trợ còn dàn trải, đôi khi không đúng mục đích, đối tượng, hiệu quả thấp. Chi phí kinh doanh ở hầu hết các giai đoạn của Việt Nam vẫn thuộc nhóm nước có chi phí kinh doanh cao.
Bên cạnh đó, quy mô chủ yếu vẫn là siêu nhỏ, nhỏ và vừa (chiếm tới hơn 95%). Rất ít doanh nghiệp có quy mô lớn đủ sức cạnh tranh toàn cầu. Năng suất lao động xã hội của khu vực KTTN còn thấp, khả năng hấp thụ và đổi mới khoa học - công nghệ còn hạn chế, chi phí cho nghiên cứu và phát triển thấp. Thứ hai, sự tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu còn yếu kém, chỉ khoảng 21% doanh nghiệp nhỏ và vừa chen chân được vào chuỗi cung ứng quốc tế. Thứ ba, tình trạng doanh nghiệp thua lỗ, phá sản vẫn ở mức cao. Đáng chú ý, vẫn còn hiện tượng vi phạm pháp luật, gian lận thương mại, trốn thuế, nợ đọng bảo hiểm xã hội, ô nhiễm môi trường và lợi dụng lỗ hổng chính sách để trục lợi, dẫn đến những vụ án kinh tế lớn mang tính chất “lợi ích nhóm”.
Những hạn chế này là tất yếu khách quan trong giai đoạn chuyển đổi, hoàn toàn không phải là bản chất của chế độ, càng không phải là bằng chứng cho thấy Đảng ta mất định hướng XHCN. Ngược lại, chính sự can thiệp kịp thời, sự trừng trị nghiêm minh của pháp luật với cá nhân vi phạm, đó chính là sự thể hiện rõ nét nhất vai trò điều tiết, quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, bảo đảm cho KTTN phát triển đúng quỹ đạo, “công tư đều lợi” nhưng tuyệt đối không được xâm phạm lợi ích quốc gia - dân tộc.
Nghị quyết 68 là “cú hích” thể chế và khát vọng 2045
Nghị quyết 68 xuất hiện như một “luồng sinh khí mới” trong bối cảnh Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa của những mục tiêu phát triển dài hạn: Trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Những con số biết nói và tầm nhìn chiến lược Nghị quyết đặt ra những mục tiêu định lượng đầy thách thức nhưng cũng đầy kỳ vọng: Đến năm 2030: Cả nước có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp; khu vực KTTN đóng góp khoảng 55 - 58% GDP; năng suất lao động tăng bình quân 8,5 - 9,5%/năm. Tầm nhìn 2045: Số lượng doanh nghiệp vượt mốc 3 triệu và đóng góp trên 60% GDP. Đây không chỉ là những con số thống kê khô khan. Đằng sau đó là một chiến lược về “hệ sinh thái KTTN”. Lần đầu tiên, yêu cầu phát triển KTTN được đặt trong một chỉnh thể bài bản, đồng bộ và hội nhập. Đảng không chỉ kêu gọi phát triển về số lượng mà còn nhấn mạnh về chất lượng: Khuyến khích hình thành các tập đoàn KTTN đa sở hữu, có năng lực cạnh tranh quốc tế, dẫn dắt các chuỗi giá trị. Một điểm đột phá đặc biệt trong Nghị quyết 68 là yêu cầu xóa bỏ triệt để mọi định kiến đối với KTTN. Đảng xác định doanh nhân là “chiến sĩ trên mặt trận kinh tế”. Việc trao quyền sở hữu, quyền cạnh tranh thực chất và tạo môi trường bình đẳng giữa các thành phần kinh tế chính là lời giải cho bài toán giải phóng mọi nguồn lực còn đang “ngủ yên” trong Nhân dân.
.jpg)
Việc xử lý nghiêm minh các sai phạm kinh tế trong khu vực tư nhân thời gian qua không chỉ là hành động tư pháp thuần túy, mà còn là sự khẳng định mạnh mẽ về bản chất thượng tôn pháp luật của chế độ ta. Nguyên tắc “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” đã được hiện thực hóa qua những vụ án như: Vạn Thịnh Phát, Tân Hoàng Minh, Trịnh Văn Quyết (FLC), Đỗ Anh Dũng (Tân Hoàng Minh), Trương Mỹ Lan,… chúng ta thấy rõ quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong việc bảo vệ an ninh tiền tệ quốc gia và quyền lợi hợp pháp của Nhân dân lao động trước những thủ đoạn thâu tóm, lũng đoạn ngân hàng tinh vi.
Vì lẽ đó mà các thế lực thù địch cố tình rêu rao rằng chính quyền “đánh tư bản” để gây hoang mang, nhưng thực chất, chính sự can thiệp quyết liệt này đã cứu nền kinh tế khỏi nguy cơ bị các nhóm lợi ích thao túng, lũng đoạn chính sách. Điều này minh chứng đanh thép rằng: Ở Việt Nam, doanh nghiệp tư nhân được tạo mọi điều kiện để làm giàu chính đáng, nhưng tuyệt đối không ai được phép đứng trên pháp luật hay xâm phạm lợi ích của quốc gia, dân tộc. Sự nghiêm minh này chính là bảo vệ định hướng XHCN, đảm bảo rằng sự lớn mạnh của khối tư nhân luôn phục vụ cho mục tiêu chung là phồn vinh của đất nước chứ không phải là sự tích tụ tài sản bất chính cho một nhóm thiểu số.
Để những quyết tâm chính trị trong Nghị quyết 68 trở thành hiện thực sinh động, cần sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị và sự đồng lòng của cộng đồng doanh nghiệp. Các bộ, ngành cần sớm ban hành các thông tư, hướng dẫn thực thi, tránh tình trạng “trên nóng dưới lạnh” hay “nghị quyết thì hay, triển khai thì vướng”. Phải coi khó khăn của doanh nghiệp là khó khăn của chính mình. Xây dựng một chính quyền phục vụ, kiến tạo, nơi mà doanh nghiệp tư nhân cảm thấy được bảo vệ và tôn trọng. Hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân trong công cuộc chuyển đổi số, đào tạo đội ngũ quản trị đạt chuẩn quốc tế để họ đủ sức “bơi” ra biển lớn. Báo chí và các cơ quan tư tưởng cần đẩy mạnh tuyên truyền về những điển hình doanh nghiệp tư nhân làm ăn chân chính, đóng góp lớn cho xã hội; đồng thời, sắc bén trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái. Trong bối cảnh thế giới đầy biến động, KTTN với sự linh hoạt, sáng tạo và khát vọng vươn lên chính là “xung lực” quan trọng để Việt Nam bứt phá. Nghị quyết 68 đã mở đường, niềm tin đã được trao gửi. Giờ là lúc biến niềm tin ấy thành những công trình, những thương hiệu Việt hùng mạnh, góp phần xây dựng một Việt Nam thịnh vượng, hùng cường và bền vững trong tương lai.
Nâng tầm kinh tế tư nhân, đập tan mọi sự xuyên tạc
Trong bài viết “Phát triển kinh tế tư nhân - đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng”, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “Cần xác định phát triển KTTN là chiến lược, chính sách lâu dài của quốc gia. KTTN cùng với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể là tập hợp nòng cốt để xây dựng nền kinh tế tự chủ, tự lực, tự cường”. Vai trò của KTTN không chỉ dừng lại ở các con số tăng trưởng GDP mà còn gắn liền với trách nhiệm xã hội, góp phần nâng cao đời sống Nhân dân, xây dựng xã hội văn minh và một Việt Nam năng động, hội nhập quốc tế. Quan điểm này hoàn toàn thống nhất với mục tiêu, lý tưởng xuyên suốt của Đảng: Xây dựng một nước Việt Nam độc lập, tự chủ, tự cường và thịnh vượng.

Bước vào nhiệm kỳ khóa XIV, nhận thức bối cảnh thế giới biến động phức tạp và kỷ nguyên công nghệ số bùng nổ, Đảng ta xác định việc hoàn thiện thể chế để KTTN phát triển bứt phá là nhiệm vụ trọng tâm. Đại hội XIV không chỉ tiếp nối tư duy của các nhiệm kỳ trước mà còn tạo ra những bước ngoặt mới nhằm giải quyết triệt để rào cản, nâng cao chất lượng KTTN.
Thứ nhất, đột phá về thể chế, xóa bỏ triệt để định kiến. Văn kiện Đại hội XIV khẳng định mạnh mẽ quyết tâm: “Xây dựng chính sách hỗ trợ để hình thành một số tập đoàn KTTN mạnh, quy mô lớn, đầu đàn để dẫn dắt chuỗi giá trị trong nước và mở rộng, tham gia thị trường toàn cầu”[5]. Điều này xóa bỏ mọi lập luận cho rằng Nhà nước Việt Nam “chèn ép” hay phân biệt đối xử với tư nhân.
Thứ hai, định hướng KTTN dẫn dắt các xu hướng mới. Không chỉ dừng lại ở quy mô vừa và nhỏ, Đại hội XIV chủ trương: “Chú trọng phát triển các tập đoàn tư nhân Việt Nam lớn mạnh, có tầm chiến lược, hỗ trợ tích cực các doanh nghiệp vừa và nhỏ, kinh tế hợp tác, kinh tế tập thể, hộ nông nghiệp và phi nông nghiệp tiếp cận đất đai, vốn, công nghệ, thị trường”[6]. Đây là bước chuyển về “chất”, dùng KTTN để xây dựng tiềm lực công nghiệp, công nghệ tự chủ cho quốc gia.
Thứ ba, gắn phát triển kinh tế với trách nhiệm xã hội và văn hóa kinh doanh. Đảng ta đặc biệt nhấn mạnh KTTN không chỉ làm giàu thuần túy mà phải gắn với tinh thần dân tộc. Việc xây dựng đội ngũ doanh nhân Việt Nam thời đại mới có tài, có tâm, có trách nhiệm xã hội, thượng tôn pháp luật, gắn bó mật thiết với lợi ích của công nhân và Nhân dân lao động chính là biểu hiện rõ nhất của “định hướng XHCN” trong lòng doanh nghiệp. Đại hội XIV xác định: “Thực hiện nghiêm túc các quy trình điều tra, truy tố xét xử các vụ án tham nhũng nghiêm trọng, công khai kết quả xử lý; thành lập các tổ công tác kiểm tra liên ngành tại những lĩnh vực nhạy cảm”[7].
Ý nghĩa và giải pháp đấu tranh về chính trị, tư tưởng trong giai đoạn hiện nay
Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đập tan hoàn toàn luận điệu “đỏ vỏ, xanh lòng”, chúng ta cần tiến hành đồng bộ các giải pháp cả về nhận thức và hành động thực tiễn.
Một là, nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị lý luận. Cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên, đặc biệt là lực lượng vũ trang (quân đội, công an) và thế hệ trẻ phải được trang bị nền tảng lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vững chắc. Phải hiểu sâu sắc rằng việc Đảng ta thừa nhận và phát triển KTTN là một quy luật khách quan, một chiến lược đúng đắn nhằm tạo tiền đề vật chất cho CNXH. Từ nhận thức đúng, chúng ta mới có đủ sắc bén để nhận diện, bóc trần những cái bẫy ngôn từ như “đỏ vỏ, xanh lòng”, “chệch hướng” mà các thế lực thù địch giăng ra. Trên các diễn đàn báo chí, mạng xã hội, cần chủ động tổ chức lực lượng đấu tranh trực diện, dùng lý luận sắc bén và số liệu thực tiễn sinh động để phản bác các luận điệu này.
Hai là, tiếp tục hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN. Vũ khí sắc bén nhất để đập tan mọi luận điệu xuyên tạc chính là thành quả của công cuộc đổi mới. Cần hiện thực hóa các chủ trương của Đại hội XIV bằng những chính sách pháp luật cụ thể. Kiến tạo môi trường đầu tư kinh doanh minh bạch, giảm thiểu chi phí tuân thủ, xóa bỏ cơ chế “xin - cho”. Chuyển mạnh sang hậu kiểm, khuyến khích tinh thần khởi nghiệp quốc gia.
Ba là, quản lý Nhà nước minh bạch, kiến tạo. Nhà nước sử dụng các công cụ vĩ mô (thuế, tín dụng, quy hoạch) để định hướng dòng vốn tư nhân chảy vào các lĩnh vực sản xuất, công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái, thay vì sa đà vào đầu cơ bất động sản hay tài chính rủi ro. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực, xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm pháp luật của các chủ thể kinh tế, không để các nhóm lợi ích thao túng chính sách. Sự trong sạch, vững mạnh của bộ máy quản lý nhà nước chính là sự bảo đảm chính trị vững chắc nhất bảo vệ cho KTTT vận hành đúng hướng.
Bốn là, xây dựng văn hóa doanh nghiệp, doanh nhân XHCN. Khuyến khích các doanh nhân tư nhân xây dựng tổ chức đảng, công đoàn trong doanh nghiệp. Đề cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, thực hiện phân phối lại thu nhập hợp lý, chăm lo đời sống người lao động. Khi mỗi doanh nghiệp tư nhân là một thực thể kinh tế lành mạnh, hoạt động vì sự phồn vinh của đất nước và hạnh phúc của Nhân dân, thì tự bản thân nó đã mang hơi thở của tính XHCN.
Luận điệu “đỏ vỏ, xanh lòng” là một mưu đồ chính trị phản động, nhằm cắt đứt mối quan hệ hữu cơ giữa sự lãnh đạo của Đảng và nền kinh tế, hòng đẩy đất nước vào quỹ đạo TBCN. Tuy nhiên, lý luận và thực tiễn đã chứng minh: Nền kinh tế Việt Nam là một chỉnh thể thống nhất. Trong đó, KTTN là phương tiện, là động lực mạnh mẽ để phát triển lực lượng sản xuất, làm ra của cải vật chất cho xã hội; còn định hướng XHCN, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là mục tiêu tối thượng đảm bảo sự phát triển ấy mang lại công bằng, ấm no cho mọi tầng lớp Nhân dân. Sự phát triển của KTTN không làm mất đi bản chất của chế độ, mà ngược lại, chính sự lớn mạnh, tự chủ của các thành phần kinh tế, sự giàu có của người dân đang làm cho lá cờ của Đảng, của Tổ quốc thêm phần chói lọi. Kiên định con đường đi lên CNXH, quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội XIV, chúng ta hoàn toàn có cơ sở và niềm tin vững chắc vào một nền kinh tế Việt Nam độc lập, tự chủ, hội nhập, đưa dân tộc bước vào kỷ nguyên vươn mình rực rỡ./.
Bài, ảnh: HỮU TÀI - CTV
*Tài liệu tham khảo:
1. C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Tuyển tập, t.1, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1980.
2. Báo cáo tại Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II” (tháng 1/1954) của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, 2011.
4. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX, X, XI, XII, XIII, XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam.
5. Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 3/6/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
6. Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về tạo động lực mới cho phát triển kinh tế tư nhân trong giai đoạn mới.
[1] C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Tuyển tập, t.1, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1980, tr. 557.
[2] “Báo cáo tại Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II” (tháng 1/1954) của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, 2011, tr. 110.
. [4] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr. 144.
. [5] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr. 154.
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập II, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr. 268, 269.
[7] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr. 179.


