Tham gia kháng chiến
Đại tá Lương Văn Thượng sinh năm 1930 (Canh Ngọ) tại Trường Long, (nay là xã Trường Long, TP. Cần Thơ), là con thứ 5 trong gia đình có 6 anh chị em. Ông kể: “Ba tôi mất sớm. Mình mẹ gồng gánh nuôi chúng tôi. Chị Hai, anh Ba và đứa em kế đã thoát ly vào căn cứ, nếu tôi đi thì chỉ còn chị Tư và em trai út. Tôi băn khoăn lắm nhưng cũng xin phép thì mẹ đồng ý liền. Từ đó, tôi trải qua nhiều vị trí công tác ở Ủy ban Kháng chiến - Hành chính các huyện Vị Thanh, Giồng Riềng, Châu Thành… thuộc tỉnh Rạch Giá. Năm 1950, tôi được cử đi học Trường Trung học bình dân Nguyễn Công Mỹ Nam bộ”.
Sau năm 1954, ông được cấp trên giao nhiệm vụ ở lại miền Nam hoạt động. Trong điều kiện vô cùng khó khăn “việc hoạt động trong lòng địch không thể dùng tên, địa chỉ thật để tránh bị truy sát ảnh hưởng đến người thân. Vợ tôi lúc đó cũng cùng tham gia cách mạng và sinh con trai đầu lòng đặt tên Lương Hoàng Vũ nên mọi người hay kêu “Ba thằng Vũ”. Vậy là tên Ba Vũ có từ lúc đó. Tới giờ, nhiều người vẫn gọi Ba Vũ, thậm chí không nhớ tên Thượng”, ông Thượng cười sảng khoái.
Năm 1967, tình hình chiến trường ngày càng ác liệt, lực lượng ta phát triển nhưng chưa bảo đảm vũ khí chiến đấu. Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Miền tổ chức kiện toàn, bổ sung Đoàn 17 (tương đương cấp trung đoàn) làm nhiệm vụ tiếp nhận, vận chuyển vũ khí, lương thực, thực phẩm, y tế… từ Campuchia về các mặt trận. Ông Thượng được bổ nhiệm Chính trị viên Đoàn 17, được phiên quân hàm Đại úy, chính thức trở thành cán bộ Quân đội. Ông Thượng kể: “Ở các cửa khẩu, ta duy trì 5 cánh quân: Cánh A quan hệ với C4 (Hạ Lào); cánh B quan hệ với B3 (Tây Nguyên); cánh C quan hệ với các Đoàn Hậu cần: 50, 70, 85, 86, 210 (Đông Nam bộ); cánh D quan hệ với Đoàn Hậu cần (Quân khu 8); cánh E quan hệ với Đoàn 195 (Quân khu 9). Mỗi cánh quân thành lập Ban Chỉ huy và Chi bộ lãnh đạo đến ngày toàn thắng”.
Tết đoàn viên

Cuối năm 1975, ông hoàn thiện chương trình tại Học viện Chính trị và được điều động về Trường Quân chính Quân khu (nay là Trường Quân sự Quân khu), phụ trách Khoa Giáo viên Quân sự - Chính trị. Đó là thời điểm cuối năm, ngoài các hội nghị tổng kết, đơn vị chuẩn bị các hoạt động mừng Xuân mới. Đây là cái Tết đầu tiên không còn khói lửa đạn bom, không nơm nớp lo sợ chạy trốn máy bay địch, không còn chia cắt hai miền Nam - Bắc. Mọi người nô nức, tất bật chuẩn bị đón Xuân dù còn nhiều khó khăn do chiến tranh tàn phá. Nhắc đến đây, người cựu chiến binh tuổi Ngọ bùi ngùi: “Tôi may mắn hơn bao đồng đội đã vĩnh viễn nằm lại đâu đó trên cánh đồng, dòng kênh, trong những cánh rừng… không được chứng kiến thời khắc non sông liền một dải.
Dù đất nước mới thống nhất, vết thương chiến tranh chưa kịp hàn gắn, thiếu thốn mọi thứ nhưng niềm vui độc lập, tự do sáng ngời trên mặt mọi người, cờ phướn rợp trời từ thành thị đến nông thôn. Ở trường, anh em ngoài việc tăng gia nuôi cá, trồng rau xanh; còn được người dân Sóc Trăng tặng bánh kẹo như những năm kháng chiến. Tình cảm trọn vẹn ấy không có gì đong đếm được”. Theo ông Thượng, ngày đó đất nước còn khó khăn, cuộc sống gia đình cũng chật vật, quân nhân cũng không ngoại lệ. Ngoài tiền lương hạn hẹp, vợ ông phải tranh thủ trồng rau, nuôi heo kiếm thêm thu nhập lo cho các con để chồng an tâm công tác.Những cán bộ, chiến sĩ từng tham gia chiến đấu giải phóng quê hương như Đại tá Lương Văn Thượng từng đón Tết trong rừng, căn cứ, trên chiến trường, thậm chí trong các nhà tù của địch nên mùa Xuân 1976, quê hương không còn bóng quân xâm lược thật sự ý nghĩa và vui mừng khôn xiết. Với gia đình ông Thượng còn đặc biệt hơn: Con trai thứ 2 ra miền Bắc học văn hóa, đại học hơn 10 năm. Con gái thứ 3 mới 13 tuổi (năm 1971) phải vượt Trường Sơn hàng tháng dài ra miền Bắc học tập. Đứa con trai thứ 4 gửi về quê nội ở Cần Thơ chăm sóc. Con gái út nhờ họ hàng bên ngoại ở Cà Mau nuôi nấng. Vậy là sau bao năm xa cách, Tết 1976, gia đình ông mới thật sự đoàn viên./.


