
Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, quân đội Mỹ không chỉ sử dụng bom đạn mà còn tiến hành chiến tranh hóa học với quy mô lớn chưa từng có. Từ năm 1961 đến năm 1971, quân đội Mỹ đã thực hiện 19.905 phi vụ phun rải khoảng 80 triệu lít chất độc hóa học xuống miền Nam Việt Nam. Trong đó, hơn 61% là chất da cam chứa dioxin - một trong những chất độc nguy hiểm nhất mà con người từng biết đến. Gần 26.000 thôn, bản bị ảnh hưởng; hơn 3 triệu héc ta đất đai, rừng cây và hệ sinh thái bị tác động nặng nề.
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng hậu quả của chất độc da cam vẫn tiếp tục đè nặng lên cuộc sống của nhiều gia đình. Hàng triệu người Việt Nam, kể cả những thế hệ sinh ra sau chiến tranh, vẫn đang phải gánh chịu những căn bệnh hiểm nghèo, dị tật bẩm sinh và những mất mát không gì bù đắp được. Câu chuyện của cựu chiến binh Đỗ Đức Địu, ở xã Võ Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình là một minh chứng đau lòng. Năm 1975, sau khi trở về từ chiến trường A Lưới (Thừa Thiên Huế), ông lập gia đình và lần lượt có 15 người con. Thế nhưng, các con của ông đều mang di chứng chất độc da cam/dioxin.
.jpg)
Hay như chị Linh Phương, quê ở Cần Thơ, nguyên là văn công phục vụ các mặt trận U Minh, Đồng Tháp trong những năm kháng chiến. Chị và chồng đều bị nhiễm chất độc da cam/dioxin. Chồng và ba người con lần lượt qua đời vì những căn bệnh hiểm nghèo như u não, suy giảm thị lực, sốt kéo dài. Những mất mát ấy trở thành nỗi đau đeo đẳng suốt cuộc đời người nữ cựu chiến binh. Đằng sau những câu chuyện, là hàng triệu phận người đang ngày đêm chống chọi với bệnh tật và khó khăn. Nỗi đau da cam không chỉ là nỗi đau của riêng các nạn nhân mà còn là nỗi đau chung của cả dân tộc.
Đại tá Phạm Công Hữu, Phó Chính ủy Binh chủng Hóa học cho biết: “Những hậu quả nặng nề của chiến tranh hóa học đã để lại nỗi đau vô cùng cho hàng vạn gia đình ở Việt Nam. Hơn 60 năm qua, những nỗ lực của các cấp, các ngành trong công tác khắc phục hậu quả chất độc da cam và chăm lo cho nạn nhân đã góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng, phát huy truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” và kêu gọi sự chung tay của toàn xã hội trong hành trình xoa dịu nỗi đau da cam”.
.jpg)
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, nhiều chương trình hỗ trợ nạn nhân chất độc da cam đã được triển khai trên cả nước. Không chỉ có sự chăm lo từ ngân sách Nhà nước, hàng triệu tấm lòng nhân ái từ các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân đã cùng chung tay giúp đỡ các nạn nhân vượt qua khó khăn, vươn lên trong cuộc sống. Song hành với công tác chăm lo cho nạn nhân là nhiệm vụ khắc phục hậu quả chiến tranh hóa học và xử lý ô nhiễm môi trường. Trong hành trình ấy, lực lượng Bộ đội Hóa học luôn là lực lượng nòng cốt.
Tại sân bay Đà Nẵng, hơn 45.000m³ đất và trầm tích nhiễm dioxin đã được xử lý triệt để bằng công nghệ giải hấp nhiệt trong mố. Tại sân bay Phù Cát và sân bay Biên Hòa, gần 326.000m³ đất nhiễm chất độc hóa học được cô lập, xử lý an toàn. Trên phạm vi cả nước, hơn 259 tấn chất độc hóa học, hơn 182 tấn đạn chứa chất độc CS cùng hàng trăm mét khối đất nhiễm độc đã được thu gom, xử lý theo quy trình nghiêm ngặt.
Trong lịch sử cũng như thời bình, người chiến sĩ Hóa học luôn đảm nhận những nhiệm vụ khó khăn, độc hại và nguy hiểm nhất. Không chỉ làm nhiệm vụ phòng hóa, lực lượng Hóa học còn trực tiếp tham gia xử lý sự cố môi trường, ứng phó hóa chất độc hại, khử độc, khử khuẩn và bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Những kết quả đạt được trong xử lý dioxin thời gian qua đã khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của lực lượng này. Những vùng đất từng bị xem là “đất chết” đang dần được hồi sinh. Mỗi khu vực được xử lý thành công không chỉ góp phần phục hồi môi trường mà còn tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm cuộc sống an toàn cho người dân.
Tại Đồng bằng sông Cửu Long, lực lượng vũ trang Quân khu 9 luôn xác định khắc phục hậu quả chiến tranh là nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình. Các đơn vị đã triển khai nhiều dự án rà phá bom mìn, vật nổ, xử lý ô nhiễm môi trường và bảo vệ hệ sinh thái. Những cánh rừng ngập mặn được trồng mới, những nguồn nước được bảo vệ, những vùng đất bị ảnh hưởng bởi chiến tranh từng bước được hồi sinh đã góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân. Ở tỉnh Cà Mau, công tác chăm lo nạn nhân chất độc da cam và bảo vệ môi trường đang được triển khai đồng bộ, hiệu quả. Bà Võ Thị Hồng Thoại, Chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin tỉnh cho biết: “Hiện toàn tỉnh có hơn 20.000 hội viên Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin; trong đó có 6.763 nạn nhân đang được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước, gồm 3.771 người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học và 2.654 trường hợp là con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam. Trong 6 tháng đầu năm 2026, các cấp Hội đã vận động và phối hợp vận động được hơn 2,8 tỷ đồng để chăm lo cho nạn nhân. Từ nguồn kinh phí này, Hội đã trao 1.840 suất quà, tặng 91 xe lăn, hỗ trợ xây dựng 2 cầu giao thông nông thôn và thực hiện nhiều hoạt động trợ giúp các trường hợp có hoàn cảnh khó khăn. Phần lớn nạn nhân tuổi cao, sức khỏe suy giảm, khả năng lao động hạn chế, rất cần sự quan tâm, hỗ trợ của cộng đồng và xã hội”.
Không chỉ chăm lo cho nạn nhân da cam, Cà Mau còn là điểm sáng trong phát triển kinh tế xanh gắn với bảo vệ môi trường. Hơn 60.000 ha rừng ngập mặn được bảo tồn và phát triển, các mô hình tôm - rừng đạt chứng nhận quốc tế ngày càng được nhân rộng. Nhiều dự án điện gió ven biển, các chương trình bảo vệ nguồn nước ngọt và giảm thiểu rác thải nhựa đang góp phần xây dựng hình ảnh một vùng Đất Mũi xanh, phát triển bền vững và thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu.
“Đầu tháng 6/2026, Binh chủng Hóa học phối hợp với Bộ Tư lệnh Quân khu 9, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Cà Mau cùng Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin tỉnh tổ chức triển lãm chuyên đề “Hồi sinh những vùng đất chết”. Triển lãm không chỉ tái hiện hậu quả khốc liệt của chiến tranh hóa học mà còn giới thiệu những thành tựu nổi bật trong công tác khắc phục hậu quả chất độc da cam, xử lý ô nhiễm môi trường và chăm lo cho các nạn nhân. Thông qua triển lãm, thông điệp về trách nhiệm gìn giữ hòa bình, bảo vệ môi trường sống và ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh hóa học tiếp tục được lan tỏa mạnh mẽ”, Thượng tá Hà Thị Thoan, Giám đốc Bảo tàng Binh chủng Hóa học cho biết.
Hơn ai hết, dân tộc Việt Nam hiểu rõ những mất mát mà chiến tranh hóa học gây ra. Vì vậy, mỗi hoạt động khắc phục hậu quả chiến tranh, mỗi sự sẻ chia với nạn nhân da cam và mỗi hành động bảo vệ môi trường hôm nay đều góp phần xây dựng một tương lai an toàn hơn cho các thế hệ mai sau. Hành trình xoa dịu nỗi đau da cam vẫn còn nhiều gian nan, nhưng bằng sự chung tay của cả hệ thống chính trị, các tổ chức xã hội và toàn thể cộng đồng, những vết thương chiến tranh sẽ tiếp tục được chữa lành, để những vùng đất từng bị tàn phá hồi sinh mạnh mẽ, để cuộc sống bình yên, hạnh phúc mãi nở hoa./.


